< Trở về giao diện Mobile
Trang chủ / Nghiên cứu - trao đổi / Chống diễn biến hoà bình

Ý Đảng, lòng dân - cội nguyền sức mạnh tạo nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam

(Thứ hai, 23/10/2017 - 20:32)

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - sự chọn lựa của lịch sử, nơi gặp gỡ giữa ý Đảng, lòng dân

 

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn, được khởi nguồn từ khi có Đảng. Thành công của cuộc Cách mạng tháng Tám “long trời, lở đất” năm 1945 là thắng lợi đầu tiên trên con đường ấy, và là tiền đề của những thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc: Chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đồng thời, đó cũng là con đường dẫn đến những thành tựu to lớn, “có ý nghĩa lịch sử” của công cuộc đổi mới, để dân tộc Việt Nam đi đến độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

 

Ngược dòng lịch sử, từ khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công vào bán đảo Sơn Trà - Đà Nẵng năm 1858, mở đầu cuộc xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân phương Tây, nhân dân Việt Nam với khí phách của dân tộc anh hùng, không cam chịu kiếp đời nô lệ đã liên tiếp đứng lên chống lại mọi sự xâm lăng. Tuy nhiên, các phong trào đấu tranh, các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của những sĩ phu, nhà yêu nước đều bị dìm trong bể máu. Nguyên nhân chính là do các phong trào yêu nước nói trên không có đường lối cách mạng theo một hệ tư tưởng tiên tiến, khoa học, những tư tưởng cũ đã lỗi thời không còn phù hợp với tiến trình lịch sử, không nhận được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân.

 

Trong hoàn cảnh đó, trên hành trình đi tìm đường cứu nước đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, bắt gặp tư tưởng tiến bộ nhất của thời đại. Với tình yêu Tổ quốc sâu nặng cùng nhãn quan chính trị sắc bén, khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin (1920), Người nhận định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản”1, đồng thời Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Với niềm tin đó, Người tiến hành truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta và xúc tiến thành lập Đảng - sự chuẩn bị chiến lược về cả chính trị tư tưởng và tổ chức cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Cũng từ đây, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là chủ trương nhất quán trong tư tưởng của Người. Ngay khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chánh cương vắn tắt do Người soạn thảo đã chỉ rõ: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Chính đường lối đó đã “vượt qua những mâu thuẫn và các hạn chế trong việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc theo lập trường phong kiến và tư sản”, đánh dấu chấm hết cho thời kỳ bế tắc khủng hoảng về đường lối, mở đầu thời kỳ sáng rõ con đường đấu tranh giành lại độc lập, tự do của nhân dân ta. Đường lối đó không những phù hợp với xu thế của thời đại, mà còn đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của cả dân tộc Việt Nam - thoát khỏi ách nô lệ lầm than của chế độ thực dân, phong kiến. Độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp của công cuộc giải phóng đất nước, là điều kiện, tiền đề đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng xã hội chủ nghĩa là con đường để bảo đảm cho độc lập của dân tộc thực sự vững chắc. Sự lựa chọn đó khơi nguồn sức mạnh cho cách mạng Việt Nam, các phong trào phản đế, phản phong liên tiếp bùng nổ, cao trào nối tiếp cao trào, tạo thành làn sóng cách mạng vừa xây dựng, vừa rèn luyện và phát triển lực lượng tạo nên sức mạnh to lớn lật nhào chế độ thực dân, phong kiến, giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ lầm than, lập nên Nhà nước Dân chủ công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đó là kết quả thực tiễn về đường lối đúng đắn của Đảng từ năm 1930: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, đáp ứng được khát vọng độc lập của dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Đồng thời, đó cũng là cội nguồn sức mạnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, mở đường đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên mới trong lịch sử của mình: Kỷ nguyên hòa bình, thống nhất, độc lập dân tộc và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

 

Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sự phát triển của đất nước. Thấu hiểu giá trị sâu sắc của độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân lý bất hủ: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”. Đối với Việt Nam, con đường phát triển đúng duy nhất đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Nếu nước đã được độc lập mà dân cứ đói, rét, không được tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì. Độc lập dân tộc phải mang lại cho con người có được tự do, có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc; con người phải được giải phóng để vươn tới cái tất yếu của tự do, đó là cái đích mà chỉ có ở chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Nói một cách khác, chủ nghĩa xã hội chính là: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chính tại đây, ý Đảng, lòng dân đang hòa cùng một nhịp, quyện chung trong cùng một mục tiêu, lý tưởng và chương trình hành động.

 

Để “ý Đảng” luôn hợp “lòng dân”

Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội chính là ngọn cờ xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Tiến trình đó thể hiện bản chất, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng và nhân dân là hai thành tố cơ bản gắn bó hữu cơ, là điều kiện cần đủ cho một cuộc cách mạng. Giữa Đảng với nhân dân luôn có sự thống nhất về lợi ích, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, vì vậy phải có sự nương tựa, gắn bó mật thiết với nhau để thực hiện thắng lợi công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

 

Trong giai đoạn hiện nay, để thực hiện được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thì ý Đảng, lòng dân thống nhất là điều kiện tiên quyết, nếu không, thì mục tiêu nêu trên sẽ không thể trở thành hiện thực. Do đó, đấu tranh vì lợi ích chính đáng của giai cấp, của nhân dân phải trở thành tôn chỉ, là mục đích hoạt động, là lẽ sống của Đảng. Đảng phải trở thành đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Mục tiêu xây dựng, chỉnh đốn Đảng là để củng cố niềm tin trong nhân dân, tạo được sức mạnh đoàn kết nhất trí của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đổi mới, để Đảng thực sự là đại biểu cho trí tuệ và niềm tin, mãi mãi là Đảng của nhân dân. Không có gì khác hơn, đó là sự song hành của đạo đức và trí tuệ được nâng lên ở tầm cao mới, sẽ là cơ sở, là ngọn nguồn sức mạnh để Đảng phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị và tiếp thêm xung lực trong hành trình đổi mới, giành lấy những thắng lợi mới vinh quang.

 

Ý Đảng được thể hiện thông qua đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; là mục tiêu hướng tới xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân, vì dân”; là bảo vệ vững chắc toàn vẹn chủ quyền của Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, hướng đến một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đảng lãnh trách nhiệm độc tôn lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, một nhiệm vụ vô cùng vinh quang nhưng cũng hết sức khó khăn, gian khổ càng đòi hỏi ý Đảng phải đại diện cho sự sáng suốt, anh minh, lỗi lạc.

 

Lòng dân với Đảng được thể hiện ở niềm tin tuyệt đối, trung thành đi theo Đảng làm cách mạng. Niềm tin đó chỉ được củng cố vững chắc khi thấy đường lối của Đảng đem lại lợi ích chính đáng cho mình. Qua đó, nhân dân sẽ tham gia tích cực với vai trò là chủ thể trực tiếp của các quá trình hoạt động thực tiễn, đồng thời cũng sẽ là người phát hiện, kiểm tra tính đúng đắn và sự phù hợp đối với đường lối, chủ trương của Đảng. Nếu thấy sai sót, nhân dân còn là người đóng vai trò phản biện, đóng góp ý kiến để xây dựng, hoàn thiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

 

Lòng dân là sự kết hợp tâm trí, lực lượng của toàn dân tộc tạo nên sức mạnh to lớn của cách mạng. Học thuyết Mác - Lênin chỉ rõ: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, cũng như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Chân lý đó đã nói lên vai trò, vị trí cực kỳ quan trọng của nhân dân và quan hệ Đảng với nhân dân. Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và sự tồn vong của chế độ, nhất là trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Trong mối quan hệ đó, nhân dân là môi trường sống, là “nguồn dinh dưỡng” cho Đảng tồn tại và phát triển. Đảng ta từ nhân dân mà ra, sức mạnh của Đảng được bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân, ý Đảng bắt nguồn từ lòng dân và chính mọi sự thành công có được là do lòng dân kết thành.

 

Để ý Đảng hợp lòng dân, ý Đảng phải đại diện cho lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân và của cả dân tộc. Đảng phải hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân, từ đó được nhân dân gửi gắm niềm tin yêu, kính phục; cũng nhờ đó mà Đảng xác lập được chỗ đứng vững chắc trong lòng dân. Điều đó đòi hỏi mọi đường lối, chủ trương, quyết sách của Đảng phải được xuất phát từ lợi ích của nhân dân và bằng thực tiễn hoạt động của mình, Đảng phải trở thành tấm gương để quần chúng nhân dân học tập, noi theo.

 

Ý Đảng hợp lòng dân còn được thể hiện ở nghị lực, ý chí quyết tâm, là bản lĩnh chính trị và sự cống hiến, phục vụ nhân dân vô điều kiện của các tổ chức Đảng. Nói cách khác, nhân dân là đối tượng phục vụ của Đảng; phục vụ lợi ích của nhân dân là mục đích, tôn chỉ của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài, để sung sướng trong khi nhân dân đói khổ, đất nước kém phát triển, mà ngược lại, Đảng làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc và xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh, nhân dân được sống trong hòa bình, ấm no, hạnh phúc. Để thực hiện thành công sứ mệnh cao cả đó, ngoài việc nắm vững thực chất lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thì hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của nhân dân, dựa vững vào dân sẽ làm cho ý Đảng trở thành hiện thực và đi vào cuộc sống. Điều kiện tiên quyết để ý Đảng hợp lòng dân đó là Đảng phải “thấu hiểu lòng dân” và đem lại lợi ích cho dân. Đó chính là chân lý, là lẽ sống của Đảng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân”, và “Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân nhân - tức là phục tùng chân lý”.

 

Tuy nhiên, thời gian qua, trong thực tiễn có những việc diễn ra chưa hợp với lòng dân, Đảng cần phải nhìn nhận thật thấu đáo, từng bước lãnh đạo, chỉ đạo và kiên quyết khắc phục kịp thời.

 

Một là, vẫn còn hiện tượng có những bộ, ngành đưa ra chính sách không sát thực tế, không hợp lòng dân, “tham nhũng chính sách” để vụ lợi cá nhân, lợi ích nhóm, lãng phí. Không ít hiện tượng sách nhiễu dân, hách dịch, cửa quyền gây tâm lý băn khoăn, bất ổn không những trong các tầng lớp nhân dân mà còn trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

 

Hai là, những biểu hiện mất dân chủ cũng như các cuộc “vận động hành lang” dưới nhiều hình thức trái nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng đang diễn ra ở một số tổ chức đảng, chính quyền. Một bộ phận cán bộ, đảng viên “nghĩ khác, nói khác”, “nói khác, làm khác” và “nói không làm”, sống thiếu gương mẫu, trái với lời dạy của Bác Hồ: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Một số cán bộ lo “chạy chức, chạy quyền”; với cán bộ lãnh đạo cấp cao là tư duy nhiệm kỳ, “hoàng hôn, khóa cuối”, tham nhũng, hối lộ, tranh thủ bòn rút, vơ vét của công. Từ đó, vô tình hay hữu ý đưa vào bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước một bộ phận cán bộ cơ hội, thực dụng, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, hoặc “lợi ích nhóm”, điều đó đã làm giảm sút niềm tin của nhân dân.

 

Ba là, có những cán bộ, đảng viên sống ích kỷ, giả tạo, hời hợt, sống coi thường kỷ cương, coi thường luật pháp, vi phạm các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng. Thích an nhàn, sống xa hoa, hưởng lạc, ngợi ca và tôn sùng lối sống phương Tây; bè phái cục bộ, lợi ích nhóm, xa dân, coi thường dân, sống vô trách nhiệm, bàng quan, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân và nỗi bất hạnh của người khác. Lối sống đó tất sẽ dẫn đến sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xa rời đường lối, chủ trương của Đảng, phủ nhận những thành quả cách mạng của dân tộc đã đạt được.

 

Bốn là, tình trạng khiếu kiện kéo dài, những vụ án oan sai chậm được khắc phục, tội phạm buôn bán ma túy, buôn lậu, lâm tặc... có xu hướng ngày càng tăng. Mặc dù cấp ủy, chính quyền các cấp đã quan tâm, có nhiều biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết và bước đầu có kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, hiệu quả còn thấp, chưa đáp ứng đầy đủ sự mong muốn chính đáng của nhân dân, lòng tin của dân với Đảng bị giảm sút.

 

Năm là, tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, nhất là sự suy thoái về môi trường; sự mất cân bằng đa dạng sinh học ngày càng nghiêm trọng. Bên cạnh đó, quyền lợi của người tiêu dùng chưa được bảo vệ đầy đủ, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng... đã và đang len lỏi vào từng ngõ ngách cuộc sống của nhân dân, khiến sức khỏe của nhân dân bị đe dọa bởi lương thực, thực phẩm không an toàn, gây bức xúc, mất niềm tin vào các cơ quan chức năng, các cấp ủy đảng và bộ máy chính quyền.

 

Trước thực tiễn bức xúc nêu trên, Đảng phải nghiêm túc tự phê bình và phê bình, nhận rõ những hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, tiếp tục tự chỉnh đốn, tự đổi mới, thể hiện rõ mình là một Đảng chân chính đúng với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại: “Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”6. Chỉ khi dũng cảm thừa nhận sai lầm, khuyết điểm và quyết tâm tìm cách sửa chữa, khắc phục, Đảng mới từng bước lấy lại lòng tin của nhân dân. Do vậy, thời gian tới cần thực hiện chỉnh đốn nghiêm từ trên xuống dưới, kiên quyết không để “vùng cấm” xuất hiện trong Đảng. Thực hiện đột phá về công tác cán bộ, xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị, hạt nhân là bộ máy quản lý nhà nước kiến tạo, hành động, liêm chính, thật sự của dân, do dân, vì dân. Tăng cường kiểm soát quyền lực, nhất là quyền lực của Nhà nước, tránh sự “tha hóa quyền lực”.

 

Trong bối cảnh hiện nay, đã và đang xuất hiện những diễn biến phức tạp, khó lường. Do đó, để khôi phục và củng cố “thế trận lòng dân”, Đảng cần phải có quyết tâm cao cùng những giải pháp đột phá chiến lược và đồng bộ, bởi nhân dân luôn là yếu tố trung tâm của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Thấm nhuần chân lý của dân tộc, “chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”, hơn bao giờ hết, đòi hỏi các cấp, các ngành phải luôn bám sát dân, thấu hiểu dân; kịp thời giải quyết khó khăn vướng mắc, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, để ý Đảng, lòng dân luôn hòa quyện. Cội nguồn tạo nên sức mạnh kỳ diệu làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, chính là nơi tụ hội của lòng dân, ý Đảng.

 

Nguyễn Đình Thiện - Vũ Đức Cường

Xem tin theo ngày: