< Trở về giao diện Mobile
Trang chủ / Nghiên cứu - trao đổi

Đôi điều luận bàn về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

(Thứ năm, 21/06/2018 - 04:39)

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những vấn đề được thảo luận nhiều nhất trong lịch sử phát triển các quyền và tự do cơ bản của con người. Đây cũng là quyền được ghi nhận từ rất sớm trong các văn kiện luật nhân quyền quốc gia và quốc tế. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người. Ngay từ những ngày đầu thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm khẳng định tầm quan trọng của vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã từng bước hoàn thiện chủ trương, cơ chế, chính sách, pháp luật về tôn giáo, tạo điều kiện tốt nhất có thể cho nhân dân thực hành quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

 

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là gì?

 

Bàn về tín ngưỡng, tôn giáo, Ph.Ănghen khẳng định: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” (1). Trong khi đó, một số nhà thần học xem tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin vào cái thiêng, cái huyền bí, ở đó chứa đựng những yếu tố siêu nhiên, nó có một sức mạnh, một quyền lực to lớn có thể cứu giúp con người khỏi khổ đau và có được hạnh phúc, sự bình yên.

 

Xét về bản chất, tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng xã hội – văn hóa có tính lịch sử do con người sáng tạo ra. Tuy nhiên, cần phân biệt hai khái niệm: tín ngưỡng và tôn giáo. Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng”; “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” (2).

 

Như vậy, tôn giáo và tín ngưỡng đều có điểm chung là thể hiện niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người vào một thực thể siêu nhiên nào đó như Thượng đế, Thần, Phật, Thánh… được bắt nguồn từ những nguyên nhân xã hội, nhận thức, tâm lý trong quá trình hình thành và tồn tại. Chủ thể của niềm tin trong tín ngưỡng và tôn giáo có thể là một người, một nhóm người hoặc là một giai cấp trong xã hội. Tuy vậy, cần phân định rõ tín ngưỡng không phải là tôn giáo, bởi lẽ, tôn giáo phải hội đủ 4 yếu tố cấu thành: giáo chủ, giáo lý, giáo luật và tín đồ còn tín ngưỡng thì không. Tín ngưỡng chỉ cần niềm tin thông qua những nghi lễ gắn với phong tục, tập quán. Nói theo tác giả Đào Duy Anh chỉ cần: “lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa nào đó đã đủ gọi là tín ngưỡng” (3). Hay xét trên phương diện hệ thống kinh điển, các tôn giáo đều có hệ thống kinh điển đầy đủ, đồ sộ trong khi đó, các loại hình tín ngưỡng chỉ có một số bài văn tế, bài khấn. Do đó, không thể đồng nhất tín ngưỡng với tôn giáo.

 

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền tự do của cá nhân hay một cộng đồng trong việc công khai hoặc bí mật thực hành, thờ phụng, rao giảng, hay tu tập một tôn giáo hay tín ngưỡng. Khái niệm này thường được thừa nhận là có bao gồm cả việc tự do thay đổi tôn giáo hoặc tự do không theo một tôn giáo nào. Tại nhiều quốc gia, tự do tín ngưỡng được nhiều người coi là một quyền cơ bản của con người.

 

Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền định nghĩa tự do tín ngưỡng như sau: "Mỗi người có quyền tự do tư tưởng, lương tâm, và tín ngưỡng; quyền này bao gồm tự do thay đổi tín ngưỡng, và tự do thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình một cách cá nhân hoặc công khai trong việc rao giảng, thực hành, thờ phụng, và tu tập(4).

 

Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo còn bao hàm ý nghĩa: công dân có quyền theo hoặc không theo một tín ngưỡng hay tôn giáo nào; người đã theo một tín ngưỡng hay một tôn giáo nào đó có quyền không theo nữa, hoặc bỏ để theo tín ngưỡng, tôn giáo khác mà không ai được cưỡng bức hay cản trở.

 

Nhà nước Việt Nam đã có những văn bản gì để bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo?

 

Cần khẳng định chắc chắn rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng quyền tự do tư tưởng – một trong những quyền cơ bản của công dân, cũng chính là tôn trọng quyền con người, tôn trọng thực tế khách quan. Vì vậy, ngay từ những ngày đầu lập nước, vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được đưa vào Chương 2, điều 10, Hiến pháp năm 1946: “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng...”. Tinh thần đó tiếp tục được khẳng định và phát triển trong Hiến pháp năm 1959: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” (Điều 26); Hiến pháp năm 1980 mở rộng thêm: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 68); Hiến pháp năm 1992 (Điều 70) quy định cụ thể: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Hiến pháp 2013 (Điều 24): "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp và thể chế hóa chủ trương, chính sách của Nhà nước về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hệ thống các văn bản pháp luật, pháp lệnh, chỉ thị về tôn giáo đã được chú trọng xây dựng và hoàn thiện. Sắc lệnh số 234-SL ngày 14/6/1955 ghi rõ: “việc tự do, tín ngưỡng, thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân chủ cộng hoà luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện” (Điều 15). Một số Thông tư hướng dẫn thi hành Sắc lệnh này sau đó đã được ban hành, bao gồm: Thông tư số 593-TTg (năm 1957) và Thông tư số 60-TTg (11/6/1964) quy định chi tiết về việc thi hành chính sách tôn giáo. Sau khi đất nước thống nhất, Chính phủ đã thông qua Nghị quyết số 297-CP ngày 11/11/1977 về “Một số chính sách đối với tôn giáo”, trong đó nêu các nguyên tắc về tự do tôn giáo. Bước vào thời kỳ Đổi mới, vấn đề quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật, bao gồm: Nghị định số 69-HĐBT ngày 21/3/1991 ban hành “Quy định về các hoạt động tôn giáo”; Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày19/4/1999 quy định về các hoạt động tôn giáo; Bộ luật Dân sự 1995 (Điều 43), Bộ luật Hình sự 1999 (Điều 47), đáng chú ý, tại Điều 164 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi) quy định về tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân và người vi phạm có thể bị phạt tù từ 3 tháng đến một năm. Luật tổ chức Chính phủ 2001 (Điều 13), Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 (Điều 5); Luật Giáo dục 2005 (các Điều 9 và 16)… đều có các điều khoản quy định nguyên tắc không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, quan trọng nhất là Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo ban hành năm 2004. Đặc biệt, ngày 18-11-2016, Lần đầu tiên Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó, điều 6 quy định rõ: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo. Đặc biệt, Luật đã mở rộng, hướng tới đối tượng - những người bị hạn chế quyền công dân, cụ thể: “Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo(5).

 

Như vậy, xét về phương diện pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được cụ thể hóa qua các hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật. Do vậy, không có lý gì phản bác Việt Nam vi phạm luật nhân quyền, cụ thể là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

 

Trách nhiệm của nhà nước Việt Nam trong bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo?

 

Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Trách nhiệm đó được quy định cụ thể và rõ ràng tại điều 3, điều 4, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể:

 

Điều 3. Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

 

1. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

 

2. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân.

 

3. Nhà nước bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo.

 

Điều 4. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 

1. Tập hp đồng bào theo tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không theo tín ngưỡng, tôn giáo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ T quc.

 

2. Phản ánh kịp thời ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của Nhân dân về các vấn đề có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

3. Tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật.

 

4. Tham gia tuyên truyền, vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ, người theo tín ngưỡng, tôn giáo, các tổ chức tôn giáo và Nhân dân thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

 

5. Giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

 

Như vậy, xét theo tinh thần Luật Nhân quyền quốc tế (UDHR), Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), Đảng, Nhà nước Việt Nam không những tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn bảo vệ, bảo hộ các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời định hướng và giúp các tôn giáo phát huy tính tích cực, xóa bỏ những luật lệ khắt khe, lỗi thời, những hành vi mê tín, vi phạm quyền con người.

 

Thực tiễn hoạt động tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên cả nước?

 

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, kể cả tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập. Theo thống kê, hiện tại, ở Việt Nam có 38 tổ chức tôn giáo, trên 24 triệu tín đồ, 80.000 chức sắc, khoảng 26.000 cơ sở thờ tự, 4 học viện Phật giáo, 49 trường cao đẳng, trung cấp, sơ cấp Phật học; Giáo hội Công giáo có 6 Đại Chủng viện với hàng nghìn chủng sinh,... Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra sôi động khắp mọi miền đất nước. Chỉ tính riêng lễ hội tôn giáo, mỗi năm có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo hoặc tín ngưỡng cấp quốc gia và địa phương được tổ chức. Quan tâm đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bằng những hành động thiết thực, cụ thể như thăm hỏi, động viên, chúc mừng. Ví như, nhân dịp lễ Thiên chúa Giáng sinh năm nay 2017, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình đã tới Tòa Tổng giám mục Hà Nội, Hội thánh Tin lành Việt Nam (khu vực phía Bắc) và Ủy ban Đoàn kết tôn giáo Việt Nam để chúc mừng. Tại TP Thanh Hóa, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã đến thăm và chúc mừng Giáo phận Thanh Hóa; Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, Tổng Giám mục Tổng giáo phận Huế, Giám quản Giáo phận Thanh Hóa Nguyễn Chí Linh nhân dịp Noel 2017... Có thể nói, tất cả sự kiện trọng đại của các tôn giáo đều được chính quyền các cấp tạo điều kiện tổ chức và lãnh đạo Đảng, Nhà nước, địa phương quan tâm, động viên, chúc mừng.

 

Không chỉ vậy, Nhà nước còn tạo điều kiện cho hàng trăm tu sĩ đi học tập, hội thảo nâng cao trình độ ở nước ngoài và nhiều người đã trở thành tiến sĩ Phật học. Việc in ấn, xuất bản kinh sách được Nhà nước quan tâm, hầu hết các tổ chức tôn giáo đều có báo, tạp chí, bản tin, đáp ứng yêu cầu hoạt động của các tôn giáo. Chỉ tính riêng Nhà xuất bản Tôn giáo, mỗi năm đã cấp phép xuất bản hơn 1.000 ấn phẩm liên quan đến tôn giáo.

 

Thực tiễn đó là một minh chứng rõ nét cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và sự tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam.

 

Tóm lại, tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của công dân. Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng quyền con người, tôn trọng thực tế khách quan, đồng thời cũng là nguyên tắc nhất quán, xuyên suốt, lâu dài của Đảng và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 

(1) C.Mác và Ph.Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 20, tr. 437

(2) Luật Tín ngưỡng tôn giáo

(3) Đào Duy Anh, Từ điển Hán Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội 2002

(4) https://thuvienphapluat.vn/

(5) Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

 

 

TS. NGUYỄN TUYẾT LAN

Bộ môn 1 – Học viện Chính trị CAND

Xem tin theo ngày: