< Trở về giao diện Mobile
Trang chủ / Tin tức - sự kiện / Tin tức Học viện

Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tự học cho sinh viên Học viện Chính trị Công an nhân dân

(Thứ bẩy, 16/06/2018 - 02:31)

Sức sống của di sản Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở các tác phẩm, bài viết, câu chuyện… mà hơn hết đó chính là tấm gương mẫu mực của Người. Khi nói đến tự học, nhân loại biết về Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con người vĩ đại vì luôn tự rèn giũa mình trong khó khăn, gian khổ, không ngừng nghiên cứu và phấn đấu để tích lũy kiến thức, chiếm lĩnh văn minh. Trong một lần nói chuyện với giáo viên, học sinh tại trường Thanh niên xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh đã nói: “Trước đây lúc tuổi thanh niên, Bác hoạt động ở Pháp, cũng vừa lao động, vừa học tập, nhưng lúc đó lao động là lao động nô lệ cho đế quốc. Bác phải làm thế để tự kiếm sống, nhưng vẫn dành thì giờ để học tập, ngày lao động, đêm học tập, chứ Bác không được đến trường học đâu. Vì vậy, Bác khuyên các cháu lao động tốt để trở thành người lao động xã hội chủ nghĩa”. Theo Hồ Chí Minh, tự học là một dòng chảy liên tục, phát triển không ngừng. Để có thể trở thành một người chiến sĩ cách mạng thực sự, tự nghiên cứu và tự học không ngừng là quá trình rèn luyện tất yếu. Và người học phải mang tâm thế “được học” thay vì “bị học”, “phải học”. Có như vậy, tự học mới thực sự là quá trình tự nguyện, tự giác “phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được”.

Tự học được xuất phát từ chính nhu cầu muốn học hỏi, muốn gia tăng sự hiểu biết để làm việc và sống tốt hơn của mỗi người. Thông qua tự học, người học sẽ tích lũy và phát triển tư duy, lý giải thực tiễn sinh động và chủ động đáp ứng nhu cầu hiểu biết của mình. Đối với quá trình dạy và học, tự học là hình thức học tập không thể thiếu, giúp người học một lần nữa thực hiện quá trình ghi nhớ và hiểu bài hơn khi đào sâu nghiên cứu về chủ đề đang được bàn đến ở giờ học trên giảng đường. Đôi khi, tự học sẽ giúp người học chủ động với kiến thức. Ngoài ra, việc xem xét vấn đề tự học sẽ giúp giảng viên đánh giá được ý thức học tập và năng lực tư duy, nhận thức của sinh viên.

Học viện Chính trị Công an nhân dân hiện nay đang đào tạo theo phương thức tín chỉ. Phương thức này, chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng ngày càng tinh gọn, số tiết giảng dạy trực tiếp trên lớp sẽ giảm đi, yêu cầu người học phải chủ động, tích cực, tự học tập và tự nghiên cứu.

Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu của một khảo sát mới đây tại Học viện Chính trị Công an nhân dân của tác giả Lê Văn Vỹ cho thấy vẫn có một tỷ lệ lớn sinh viên chưa xác định được sự cần thiết của việc làm bài tập về nhà (chiếm 32,1%); chỉ có 25,3% sinh viên được hỏi cho rằng thường xuyên chuẩn bị trước bài học mới; số sinh viên tìm sự hỗ trợ từ thầy cô, chuyên gia đều dừng lại ở mức rất hạn chế… Điều này lại một lần nữa cho thấy sự thụ động đối với kiến thức đang là một thực trạng tồn tại. Việc học viên chưa có tâm thế làm chủ kiến thức sẽ khiến họ trở nên rụt rè, mất tự tin khi muốn phát biểu một vấn đề nào đó. Đồng thời, khi lên lớp, học viên sẽ gặp khó khăn nhất định để điều tiết thời gian hợp lý - vừa chép bài, vừa nghe giảng.

Bên cạnh đó, do điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị trường lớp, thư viện còn nhiều khó khăn nên hoạt động tự học tại Học viện chưa được triển khai rộng rãi, đồng bộ, cũng chưa có một cơ chế đánh giá thực sự khách quan, khoa học, đảm bảo kích thích năng lực tự nghiên cứu, hình thành thói quen tự học ngay trên ghế nhà trường cho sinh viên. Kết quả khảo sát từ nghiên cứu “Nhu cầu học tập của học viên đối với các phương pháp dạy học tích cực tại Học viện Chính trị CAND” cho thấy chỉ có 4% sinh viên hài lòng với tài liệu và phương tiện học tập của nhà trường hiện nay. Nhu cầu nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu học tập để mở rộng vốn hiểu biết của sinh viên không còn chỉ giới hạn trong khuôn khổ của giáo trình, sách giáo khoa.

84% sinh viên được hỏi cho rằng các tài liệu tham khảo do giảng viên giới thiệu, cung cấp chỉ tương đối đầy đủ. Như vậy, sinh viên vẫn chưa thực sự thỏa mãn với những gì họ nhận được từ việc trang bị kiến thức mở rộng của giảng viên. Cũng phải nói thêm rằng, việc hướng dẫn cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu có hiệu quả được coi là một trong những phương pháp dạy học tích cực. Chúng ta không nên chỉ coi những phương pháp áp dụng ngay tại lớp mới là phương pháp dạy học. Việc hiểu sai đó có thể vô tình làm giảm hiệu quả học tập của sinh viên. Trong khi, số giờ tự học của sinh viên luôn chiếm số lượng lớn và góp phần quan trọng cho sự hoàn chỉnh kiến thức của toàn bộ học phần đó.

Trong đào tạo tín chỉ, việc tự học rất quan trọng, quyết định tới chất lượng đào tạo của nhà trường. Chắc chắn, trong quá trình đó, sự nỗ lực tự thân của người học là yếu tố quyết định thành công. Tuy nhiên, để hoạt động này đạt được hiệu quả cao, cần có sự tham gia đồng bộ từ nhiều phía. Thực tế cho thấy, tự học chưa được quan tâm, đầu tư thực hiện theo kế hoạch, lộ trình cụ thể và đôi lúc còn buông lỏng trong quản lý, kiểm tra, đánh giá tự học của sinh viên.

Để việc tự học tại Học viện Chính trị Công an nhân dân theo đúng tinh thần của đào tạo tín chỉ, tránh mang tính hình thức, thiếu thực chất, không phát huy được thế mạnh, ưu điểm của phương pháp học tập này, cần tập trung vào một số giải pháp cụ thể theo ba mức độ phát triển của quá trình tự học như sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của sinh viên về việc tự học, tạo lập hứng thú, phát triển động cơ, nhấn mạnh trách nhiệm của sinh viên trong hoạt động tự học.

Khi sinh viên còn mơ hồ giữa việc học tập thế nào là đủ, vì sao cần phải tự học, tự học gồm những hình thức nào,… có nghĩa là, sinh viên chưa có nhận thức tốt về quá trình tự học. Do đó, cần phải xây dựng cho sinh viên những ý niệm nền tảng, thật rõ ràng, chắc chắn, khoa học về việc tự học. Khi sinh viên đã có nhận thức tốt về vai trò, tác dụng của hoạt động này, họ sẽ tự nguyện, hào hứng và lựa chọn được hình thức và phương pháp tự học hiệu quả nhất.

Đây được coi là mức độ phát triển đầu tiên của quá trình tự học. Muốn làm gì, muốn học gì, chúng ta đều phải bắt đầu từ việc tác động vào nhận thức. Vì thế, ở đây, vai trò của cơ sở đào tạo, của giảng viên là chủ yếu.

Đối với Học viện: cần tổ chức những buổi tọa đàm, trao đổi, phổ biến cho sinh viên về mục tiêu, yêu cầu đào tạo và nhiệm vụ học tập ở Học viện để sinh viên thấy được ý nghĩa của công việc này. Ví dụ: cho sinh viên trong thời gian sinh hoạt đầu khóa tự nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tự học, rút ra được ý nghĩa với bản thân và quá trình học tập sau này tại Học viện. Công tác này sẽ tạo ra động lực ban đầu rất quan trọng, định hướng tư tưởng, hình thành mục đích tự học, kích thích làm chủ kiến thức cho sinh viên.

Học viện cần quán triệt với đội ngũ giảng viên trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nên xuất phát từ nhu cầu học tập của sinh viên để có phương pháp giảng dạy hợp lý, hiệu quả. Học viện nên có định hướng để tạo ra bước đệm tâm lý cho giảng viên, khiến giảng viên hiểu được xây dựng lộ trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ bắt buộc phải thực hiện việc dạy học phát huy sự chủ động của người học. Nếu bản thân giảng viên có tâm lý coi nhẹ việc tự học thì sinh viên chắc chắn không có lý do để hình thành thói quen học tập quan trọng này.

Đối với giảng viên: nên thiết kế lộ trình tiếp cận kiến thức từ dễ đến khó, từ cơ bản đến nâng cao… càng nâng cao càng đòi hỏi sự tư duy, tự nghiên cứu của học trò. Có như vậy, quá trình tự học mới thực sự có ý nghĩa, sinh viên cũng nhận thức được thực chất của quá trình tự học không phải là ngồi chép nguyên trong giáo trình một cách thụ động, mà giờ đây, tự học là trả lời những câu hỏi nâng cao bằng sự suy luận logic dựa trên những kiến thức cơ bản.

Trong từng khâu thực hiện hoạt động dạy học, giảng viên nên phân chia các đơn vị kiến thức hợp lý - lựa chọn kiến thức trao đổi, giảng dạy trên lớp và những kiến thức cho sinh viên nghiên cứu ở nhà; đưa ra những nhiệm vụ học tập trên lớp để đánh giá được thực chất năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Chỉ có những sinh viên đã tự nghiên cứu bài trước theo yêu cầu mới có thể hiểu bài và hoàn thành được nhiệm vụ trên lớp. Giải pháp này sẽ tăng tính chủ động, tích cực của sinh viên thực hiện tốt hoạt động tự học của mình.

Thứ hai, quản lý quá trình tự học một cách có hệ thống, có sự phối hợp giữa các khoa, phòng, đơn vị có liên quan.

Đối với Học viện: tự học là một hoạt động tự giác, tự nguyện của sinh viên nhưng vai trò quản lý của nhà trường lại rất quan trọng. Chính vì hệ thống các trường đại học tại Việt Nam đào tạo theo hệ thống tín chỉ chưa rõ ràng, dứt khoát quan điểm, còn hiện tượng buông lỏng quản lý, coi nhẹ vấn đề tự học nên có những thời điểm, sinh viên gần như không quan tâm tới việc tự học. Khu vực giảng đường, thư viện chỉ trở nên đông đúc vào kỳ thi. Do vậy, Học viện Chính trị Công an nhân dân nên quan tâm nhiều hơn tới việc quản lý hoạt động tự học của sinh viên. Cụ thể: Ban Giám đốc học viện cần yêu cầu mỗi đơn vị có báo cáo về hoạt động tự học của sinh viên; phòng Đào tạo nên căn cứ vào chương trình kế hoạch học tập của sinh viên đã được phân bổ thời lượng tiết tự học để có hình thức kiểm tra thường xuyên, kịp thời đôn đốc, nhắc nhở những tập thể, cá nhân chưa nghiêm túc khi tự học; phòng Quản lý học viên là đơn vị chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp sinh viên, nên cần có sự phối hợp với phòng Đào tạo để thực hiện hoạt động quản lý sinh viên trong giờ tự học đảm bảo hiệu quả, chất lượng thực sự. Mặt khác, nhà trường cũng nên có những khắc phục ban đầu về mặt cơ sở vật chất, phòng học, trang thiết bị phục vụ việc tự học. Có như vậy, sinh viên mới an tâm thực hiện quá trình tự học, tự nghiên cứu.

Đối với giảng viên: muốn quản lý được hoạt động tự học của sinh viên, giảng viên cần hiểu được vai trò của mình trong việc xây dựng chương trình học, xây dựng hệ thống các câu hỏi tự nghiên cứu, không làm theo kiểu dập khuôn, máy móc, khô khan, thiếu tính sáng tạo. Ví dụ: những kiến thức đã có hoàn toàn trong sách giáo trình, giảng viên không nên yêu cầu sinh viên trả lời các câu hỏi dạng tự luận, thay vào đó nên thiết kế câu hỏi mang tính trắc nghiệm. Dạng câu hỏi tự luận nên là những câu đòi hỏi phải đọc, nghiên cứu và tư duy trước. Giảng viên nên linh hoạt cung cấp tài liệu có kiến thức phong phú, đa dạng, vừa liên quan đến nội dung bài học, lại vừa có sự mở rộng, kích thích tư duy, ham tìm tòi, khám phá của sinh viên.

Ở những nước có nền giáo dục phát triển, thời lượng sinh viên lên giảng đường gặp giảng viên không quá nhiều. Thay vào đó, giảng viên sẽ đưa cho sinh viên nội dung vấn đề và gợi mở cho người học những hướng tự tìm tòi, nghiên cứu để phát triển tư duy cá nhân. Kết quả tự học của sinh viên sẽ được thể hiện trong giờ thảo luận tại lớp, họ được tự do nói, tranh luận và chia sẻ. Quá trình người học sẵn sàng bày tỏ quan điểm của mình, lắng nghe và tiếp thu sẽ khuyến khích mỗi cá nhân hiểu bài giảng một cách chủ động. Rất thường xuyên, giảng viên yêu cầu sinh viên thực hiện các bài nghiên cứu và nộp báo cáo đúng hạn. Do đó, ở nền giáo dục mở như thế, hầu như không có khái niệm điểm danh và ép buộc tới giảng đường nhưng các thư viện luôn hoạt động với tần suất rất lớn và một cách thường xuyên. Vậy, vấn đề ở đây là, nhu cầu khai thác tài liệu và tự trải nghiệm các phương tiện học tập của sinh viên rất lớn, giảng viên cần có một chiến lược thực sự để tận dụng nhu cầu này và khiến sinh viên của mình trưởng thành tích cực và chủ động hơn.

Thứ ba, xây dựng cơ chế đánh giá hoạt động tự học của sinh viên cụ thể, công bằng và tạo động cơ tự nguyện, tự giác học tập cho sinh viên.

Đánh giá hoạt động tự học rất dễ dẫn đến sự đánh giá cảm tính, thiếu công bằng. Cần phải dựa vào những sản phẩm cụ thể sau khi kết thúc quá trình tự học mỗi ngày làm căn cứ để kiểm tra, đánh giá. Ví dụ: việc ban hành tới sinh viên một cuốn sổ tay học tập cho từng môn học cụ thể sẽ giúp sinh viên hệ thống được kiến thức trên lớp, kiến thức cơ bản; thực hiện các bài trắc nghiệm để kiểm tra kiến thức và sự ghi nhớ bài; các câu hỏi tự luận giúp sinh viên chịu khó tìm kiếm, nâng cao khả năng hiểu biết về lĩnh vực đang quan tâm; sinh viên có thể ghi chú những vấn đề mình không hiểu, đặt câu hỏi với giảng viên… Trong cuốn sổ tay cũng đồng thời có mục đánh giá của giảng viên theo từng hạng mục cụ thể ở từng bài. Đây chính là cách đánh giá tư duy, năng lực của người học một cách rõ ràng và công bằng.

Cùng với sự vận động, phát triển của xã hội hiện đại thì việc đổi mới giáo dục cũng luôn được quan tâm, chú trọng và đầu tư. Hướng tới một nền giáo dục tiên tiến mà ở đó phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động cũng như tư duy sáng tạo của người học chính là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của cải cách nền giáo dục Việt Nam. Tự học được coi là một trong những phương pháp tối ưu để kích thích khả năng tập trung, khả năng tư duy, khả năng làm việc với thực tiễn của sinh viên. Vì vậy, Học viện Chính trị Công an nhân dân cần làm tốt ba khâu trong quá trình tự học của sinh viên- quá trình tác động, thay đổi nhận thức; quá trình quản lý và quá trình đánh giá./.

 

Phan Thị Thu Trang

 

 

 

Xem tin theo ngày: