< Trở về giao diện Mobile
Trang chủ / Trang sinh viên

Những đóng góp của thanh niên Việt Nam trong chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử

(Thứ hai, 06/05/2019 - 22:40)

Ngày 07/5/1953, thực dân Pháp cử tướng Nava làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Sau khi sang Đông Dương, Nava đã đề ra kế hoạch quân sự mới với hy vọng kết thúc chiến tranh trong vòng 18 tháng và giành lấy thắng lợi quyết định để “kết thúc chiến tranh trong danh dự”. Khi Kế hoạch bước đầu phá sản, đầu tháng 12/1953, Nava quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, sẵn sàng cho một cuộc quyết chiến chiến lược tại đây, với mục tiêu “nghiền nát” bộ đội chủ lực của ta.

 

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ và xác định nơi đây trở thành tâm điểm của kế hoạch đông - xuân năm 1953 - 1954 của ta, một trận quyết chiến chiến lược giữa ta với Pháp. Nhận định về tính chất và quy mô của chiến dịch Điện Biên Phủ, Bí thư Tổng Quân ủy, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp kết luận: “Chiến dịch này là chiến dịch lớn nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam từ trước đến nay... Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, nhất định chúng ta phải thắng”(1).

 

Đối với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, thanh niên Việt Nam đã nắm giữ vai trò quan trọng, là lực lượng chủ yếu trực tiếp chiến đấu để quyết định đến thắng lợi của chiến dịch này.

 

Chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Chỉ huy và Đảng ủy mặt trận do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng, kiêm Bí thư Đảng ủy mặt trận, lực lượng chuẩn bị bao gồm: 4 đại đoàn bộ binh (308, 312, 316, 304), một đại đoàn pháo binh, nhiều tiểu đoàn công binh, thông tin, vận tải, quân y... huy động được 55 000 quân, trong đó phần lớn là thanh niên từ các vùng hậu phương.

 

Với khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả để chiến thắng”, hàng vạn thanh niên các tỉnh vùng tự do Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc... và các tỉnh vùng giải phóng ở khu 3 đã tham gia lực lượng bộ đội chủ lực và thanh niên xung phong trực tiếp chiến đấu ở lòng chảo Điện Biên Phủ. Tuyển chọn đến đâu thì tổ chức thành đơn vị đại đội đến đó, đồng thời với việc lập chi bộ đảng là thành lập chi đoàn thanh niên cùng cấp, cứ 10 đại đội trở lên thành lập một liên chi ủy và liên chi đoàn thanh niên.

 

Trên chiến trường, sự hy sinh của những thanh niên Việt Nam đã tiếp thêm sức mạnh cho ngọn lửa yêu nước trong trái tim những người đồng đội trên tiền tuyến và cả triệu người nơi hậu phương. Lịch sử không thể nào quên tấm gương anh dũng hy sinh của anh hùng Phan Đình Giót, người đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Sau khi nâng súng tiểu liên bắn vào lỗ châu mai, người thanh niên ấy hô to: “Quyết hy sinh...Vì Đảng... Vì dân”. Lịch sử cũng ghi danh người anh hùng Tô Vĩnh Diện, người đã lấy thân mình chèn thân pháo, khi cả đơn vị kéo pháo ra tập kết ở Bắng Hôm để chờ lệnh mới... Tấm gương sáng của người anh hùng Trần Can, mặc dù bị thương, anh vẫn tập hợp những thương binh hạng nhẹ, chấn chỉnh tổ chức và tham chiến trước yêu cầu nhanh chóng kết thúc chiến dịch, xiết chặt vòng vây tấn công vào phân khu trung tâm của thực dân Pháp. Trên thân mình vẫn còn không ít những vết thương, người thanh niên ấy đã gạt đi nỗi đau về thể xác để chống trả quyết liệt, quyết tâm bảo vệ cánh cửa Mường Thanh, tạo thế mở cửa cho bộ đội tấn công vào phân khu trung tâm. Anh đã hy sinh vào sáng ngày 07/5/1954, khi mà chỉ còn mấy tiếng nữa là chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi vang dội. Lúc ngã xuống trên cây cầu Mường Thanh, Trần Can mới tròn 23 tuổi. Năm 1956, anh trở thành một trong 16 người được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Nhiều thanh niên đã trở thành những tổ viên hăng hái của các tổ “bắn bia sống”, phong trào “bắn tỉa, săn Tây”, thi đua giữa các lực lượng bộ binh, pháo binh, pháo cao xạ, đánh chắc, tiến chắc, từng bước siết chặt vòng vây, tiến tới tiêu diệt và bắt gọn toàn bộ quân địch trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Trong suốt 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, “máu trộn bùn non”, những người thanh niên Việt Nam có mặt trong chiến dịch Điện Biên Phủ “gan không núng, chí không mòn”. Những chiến công hiển hách của các anh đã làm tỏa rạng chân lý “Đâu cần, thanh niên có; việc gì khó, thanh niên làm” và tô thắm thêm truyền thống kiên cường, dũng cảm, xung kích, anh hùng của thanh niên Việt Nam.

 

Thanh niên Việt Nam là lực lượng chủ lực đảm bảo cung cấp đầy đủ thuốc men, đạn dược, lương thực, thực phẩm, giao thông thông suốt cho chiến dịch, làm kho tàng, lán trại, canh gác bảo vệ, tải thương, tải đạn... Quân địch cho rằng, mặt trận xa hậu phương gần 600km nên ta không thể cung cấp cho bộ đội đủ súng đạn, lương thực, thực phẩm bằng việc tổ chức vận chuyển bằng thủ công. Theo kinh nghiệm vận tải đã tổng kết ở chiến dịch Tây Bắc (năm 1952), để có 1 kg gạo đến đích phải có 24 kg ăn dọc đường. Vậy, nếu cũng vận chuyển hoàn toàn bằng dân công gánh bộ, muốn có số gạo trên phải huy động từ hậu phương hơn 60 vạn tấn và phải huy động gần 2 triệu dân công để gánh. Do đó, để đánh giá mức độ quan trọng của công tác hậu cần, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét rằng, “việc đảm bảo cung cấp lương thực, đạn dược cho Điện Biên Phủ là một nhân tố vô cùng quan trọng, quan trọng không kém các vấn đề chiến thuật từng ngày, từng giờ... không kém tình hình chiến đấu”.

 

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy Trung ương đã đưa ra giải pháp: một mặt, động viên nhân dân Tây Bắc ra sức tiết kiệm để đóng góp tại chỗ, mặt khác đẩy mạnh làm đường, sửa đường, huy động tối đa các phương tiện vận chuyển thô sơ như ngựa thồ, xe đạp thồ, thuyền mảng... nhằm giảm đến mức tối đa lượng lương thực thực phẩm tiêu thụ dọc đường do phải đưa từ xa tới.

 

Để đáp ứng yêu cầu hậu cần của chiến dịch, 1,5 vạn thanh niên tình nguyện đã được bố trí thành Đội Thanh niên xung phong, biên chế như tổ chức quân đội. Đội 38 làm đường 1B từ biên giới Lạng Sơn - Trung Quốc đến Thái Nguyên để tiếp nhận hàng viện trợ của các nước, làm đường 13 từ Yên Bái sang Sơn La. Đội 34 và Đội 40 trực tiếp bảo đảm giao thông từ Mộc Châu đến gần Điện Biên Phủ, dài trên 200km. Trừ các đại đội phục vụ hỏa tuyến, các đại đội còn lại phục vụ Hội đồng cung cấp mặt trận T100 (tên mật của chiến dịch Điện Biên Phủ). Các đại đội còn lại đóng rải rác trên đường 6 nhưng tập trung nhất là ở Ngã ba Cò Nòi, đèo Chiềng Đông, đèo Chiềng Pắc, đèo Sơn La, đèo Pha Đin, Ngã ba Tuần Giáo, cầu Tà Vài, Yên Châu...

 

Lực lượng thanh niên xung phong đã sửa chữa, mở rộng, làm mới hàng nghìn ki-lô-mét đường, cầu mở đường cho các đoàn vận tải bằng ô tô, xe đạp thồ, ngựa thồ, gánh bộ, thuyền gỗ, thuyền nan từ các miền tập trung về hướng Điện Biên Phủ. Máy bay địch càng tăng cường đánh phá các tuyến đường vận tải của ta thì lực lượng thanh niên càng ra sức nối lại các tuyến đường huyết mạch. Sau các trận đánh chỉ vài tiếng đồng hồ là đường lại thông. Một trong những lực lượng quan trọng phục vụ hậu cầu cho chiến dịch là đội xe đạp thồ trên 2 vạn người, trong đó phần lớn là ở độ tuổi thanh niên. Mỗi xe đạp thồ trung bình chở khoảng 200 - 300kg, trong đó, kỷ lục xe đạp thồ chở tới 345,5 kg thuộc về dân công Trịnh Ngọc. Xe đạp được cải tiến có thể thồ cao gấp hơn 10 lần dân công gánh bộ, đồng thời giảm được mức tiêu hao gạo ăn dọc đường cho người chuyên chở. Tổng kết chiến dịch, đã có khoảng 26 vạn dân công tham gia tiếp tế cho chiến dịch Điện Biên Phủ, đóng góp 2 triệu ngày công để phục vụ chiến dịch. Từng đoàn người, đa phần đều ở độ tuổi thanh niên nối đuôi nhau trên các con đường vận tải, tất cả đều hướng về Điện Biên Phủ. Mặc cho máy bay Pháp cứ ném bom, những vũ khí, khí tài của chúng không thể nào cản được bước tiến của quân và dân ta hiên ngang mà tiến về phía trước. Xúc động trước hình ảnh ấy, nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ “Hoan hô chiến sỹ Điện Biên” đã viết:

          “...Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ

          Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát

          Dù bom đạn, xương tan thịt nát

          Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh...”

 

Tuy nhiên, đã có hàng ngàn thanh niên hy sinh anh dũng tại nhiều tuyến đường dẫn vào Điện Biên Phủ. Đồng chí Nguyễn Văn Trân, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng cung cấp mặt trận đánh giá: “Việc vận chuyển từ hậu phương ra tiền phương biết bao hy sinh. Phải nói rằng thanh niên xung phong là lực lượng nòng cốt không những vận tải mà còn đảm bảo giao thông trên bộ, trên sông. Ở các điểm nóng của chiến dịch đều có mặt thanh niên xung phong”.

 

Có thể nói rằng, lực lượng thanh niên đã trở thành lực lượng chủ lực đảm bảo cung cấp đầy đủ hậu cần, giao thông thông suốt phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong thư ngày 08/5/1954, Bác Hồ đã gửi lời khen ngợi: “Bác và Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi cán bộ, chiến sỹ, dân công, thanh niên xung phong... đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang”. Bức thư là sự ghi nhận những đóng góp của thanh niên Việt Nam nói chung và lực lượng thanh niên xung phong nói riêng.

 

Nhờ có sự lao động quên mình của nhân dân nói chung và thế hệ trẻ nói riêng mà vùng hậu phương không những đảm bảo nhu cầu cuộc sống mà còn đáp ứng được nhu cầu lớn về vật chất cho chiến trường. Thanh niên Việt Nam đã chiến đấu kiên cường, đập tan âm mưu lấn chiếm, mở rộng càn quét vùng đồng bằng đông dân, thọc sâu vào hậu phương kháng chiến làm cản trở việc chi viện cho mặt trận Điện Biên Phủ.

 

Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử đã diễn ra cách đây 65 năm, những đóng góp của thế hệ thanh niên năm ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị, trở thành động lực thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay tiến bước noi theo thế hệ đi trước và kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh.

 

(1) Tổng cục Chính trị: Lịch sử công tác đảng công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-2000), Nxb  Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr.265-266.

 

Nguyễn Đức Mạnh B4D3

 

Xem tin theo ngày: