Thực trạng và giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước

 Với vai trò, sứ mệnh của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò chủ thể lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội với mục tiêu cao nhất là xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Quyền lực chính trị của đảng cầm quyền và quyền lực nhà nước có liên quan mật thiết với nhau nhưng không đồng nhất. Quyền lực chính trị của Đảng chính là quyền định hướng, hoạch định quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách lớn; quyền sử dụng bộ máy nhà nước để thực hiện các mục tiêu chính trị của mình. Trong đó, năng lực cầm quyền của Đảng gắn liền với năng lực hoạch định, đề ra đường lối chính trị; năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên được Đảng giới thiệu để bầu cử hoặc bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý trong các tổ chức của hệ thống chính trị, đặc biệt là bộ máy của Nhà nước và năng lực kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện đường lối chính trị của Đảng trong hoạt động Nhà nước. Vì vậy, để thực hiện được vai trò cầm quyền của mình, đòi hỏi Đảng cần nâng cao tầm trí tuệ và tập trung xây dựng bộ máy thực hiện tốt ba khâu công tác, gồm: Xây dựng và quyết định đường lối chính trị; giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ đủ năng lực, trình độ và uy tín để thực hiện có hiệu quả đường lối chính trị của Đảng thông qua các hoạt động của nhà nước; kiểm tra, giám sát được quá trình thực hiện đường lối chính trị trong thực tiễn. Để đạt được mục tiêu, yêu cầu, các nội dung đó, cần phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước.

1- Khái quát, trực trạng thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan nhà nước thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong thời gian qua

Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan nhà nước ngày càng hoàn thiện. Vai trò, chức năng của hệ thống các cơ quan nhà nước ngày càng được hoàn thiện, vai trò lãnh đạo của Đảng không ngừng được nâng lên, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước được tăng cường; giảm bớt tình trạng bao biện, làm thay, “lấn sân” giữa Đảng và Nhà nước. Cơ quan nhà nước ngày càng thực quyền hơn, hiệu quả lãnh đạo của Đảng được nâng lên rõ rệt, phát huy được vai trò, chức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội. Có được như vậy trước hết là văn kiện các kỳ đại hội Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã xác lập được các quan điểm đúng đắn làm cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước ở các cấp.

Về phương thức, Đảng lãnh đạo các cơ quan nhà nước thông qua đề ra những định hướng, nguyên tắc, quan điểm, chủ trương, giải pháp lớn, từ đó các cơ quan của nhà nước thảo luận, quyết định, cụ thể hoá sự lãnh đạo của Đảng theo chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan, đơn vị đã được quy định, Đảng giáo dục, rèn luyện, lựa chọn và giới thiệu được cán bộ, đảng viên có trình độ, năng lực và phẩm chất tốt, có uy tín đối với đảng viên và nhân dân để các cơ quan, tổ chức xem xét, bầu cử, bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý trong tổ chức bộ máy Nhà nước.

Về mặt tổ chức, Đảng đã nhất quán thực hiện có kết quả chủ trương ở đâu có tổ chức, đoàn thể thì ở đó có tổ chức đảng và ở đâu có quần chúng thì ở đó cần có đảng viên để lãnh đạo nhằm bảo đảm các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng được triển khai đi vào cuộc sống. Theo đó, hệ thống tổ chức của Đảng đã được thành lập tương ứng với cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nước từ Trung ương tới cơ sở. Trong một số cơ quan, đơn vị, mô hình tổ chức đảng dưới dạng ban cán sự đảng, đảng đoàn, hoặc cấp uỷ, một số tổ chức đảng thành lập và hoạt động theo khối. Bên cạnh việc thành lập cơ quan, tổ chức là việc ban hành được các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các tổ chức đảng để bảo đảm thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của Đảng trong từng cơ quan, tổ chức và địa phương. Có nhiều tổ chức đảng trong các loại hình cơ quan, đơn vị đã phát huy vai trò lãnh đạo và là hạt nhân chính trị ở cơ sở; có nhiều mô hình mới và điển hình tiên tiến, lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên và lãnh đạo, quản lý các cấp trưởng thành về mọi mặt, đại đa số có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành với đường lối phát triển đất nước do Đảng lãnh đạo, có ý thức phục vụ nhân dân, gương mẫu thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tích cực tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Trong thực hiện nhiệm vụ đã nêu cao ý thức tiền phong, gương mẫu, tinh thần trách nhiệm. Nhờ đó, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội được giữ vững, từng bước được tăng cường, niềm tin của nhân dân với Đảng được củng cố.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI), nhiều tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước, trong đó có người đứng đầu, đã chủ động, tích cực xây dựng, hoàn chỉnh quy chế làm việc của cấp uỷ, tổ chức đảng (ban cán sự đảng, đảng đoàn). Trong đó, có xác định rõ nguyên tắc, nội dung, phương thức lãnh đạo, xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể và cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu, mối quan hệ giữa người đứng đầu là bí thư ban cán sự đảng, đảng đoàn với tập thể cấp uỷ, với lãnh đạo bộ, hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân cùng cấp... Đồng thời, tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định đó của tổ chức, cơ quan, đơn vị mình gắn với các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Qua đó, vừa thực hiện tốt vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của tổ chức đảng và người đứng đầu tổ chức đảng, vừa thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức nhà nước và người đứng đầu, cán bộ chủ chốt của tổ chức nhà nước là bí thư ban cán sự đảng, đảng đoàn, bí thư cấp uỷ hoặc cấp uỷ viên, uỷ viên ban cán sự đảng, đảng đoàn... khắc phục tình trạng người đứng đầu độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, thiếu dân chủ, thậm chí vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách hoặc cấp uỷ, tổ chức đảng “lấn sân”, bao biện, làm thay công việc của chính quyền và người đứng đầu, cán bộ chủ chốt của cơ quan nhà nước.

 2- Những tồn tại, hạn chế, bất cập trong thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước

- Trong điều kiện một đảng cộng sản duy nhất cầm quyền, lãnh đạo cả nước thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế, hội nhập với thế giới, lại mới kết thúc chiến tranh chưa lâu, lý luận và nhận thức về phương thức lãnh đạo của Đảng còn có phần ảnh hưởng từ phương thức lãnh đạo hình thành trong thời kỳ nền kinh tế vận hành theo mô hình kế hoạch, tập trung, quan liêu, bao cấp, mọi nguồn lực đều tập trung cho sự nghiệp đấu tranh, giải phóng đất nước. Lý luận về đảng cầm quyền, về phương thức lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ mới với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế còn nhiều vấn đề mới mẻ, chưa có kinh nghiệm thực tiễn trong nước và ngay cả trên thế giới, đòi hỏi phải tìm tòi, vừa làm vừa rút kinh nghiệm nên có những vấn đề chưa được làm rõ, nhận thức còn khác nhau. Nhận định về quy trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X) nhấn mạnh: ”Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị mà trọng tâm là đối với Nhà nước còn chậm và lúng túng”. Việc nghiên cứu, ban hành, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật để thích ứng với quá trình vận hành của nền kính tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời, chưa đầy đủ, đồng bộ giữa các quy chế, quy định của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật.

Quan điểm, nhận thức về phương thức lãnh đạo để chuyển từ nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng thành quyết định quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước tương ứng còn lúng túng. Trong một số trường hợp chưa phân định rõ quyền lãnh đạo của Đảng với quyền quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước. Do việc phân định không rõ ràng, có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn còn chồng chéo, trùng dẫm lên nhau dẫn đến trường hợp tổ chức đảng bao biện, làm thay hoặc dễ bị buông lỏng sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, cũng có tình trạng cơ quan nhà nước vì sợ trách nhiệm và để “an toàn” nên đùn đẩy trách nhiệm cho cấp ủy đảng, người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, hoặc có khi cũng xác định được thẩm quyền, trách nhiệm của mình nhưng vẫn “báo cáo, xin ý kiến lãnh đạo, chỉ đạo” của cấp uỷ, tổ chức đảng để bảo đảm “chắc chắn” và “an toàn”.

Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống nhiều nơi chưa được làm đầy đủ, tới nơi tới chốn, sức thuyết phục kém nên không đủ sức động viên đảng viên và nhân dân; một số tổ chức đảng tổ chức học tập, quán triệt, nhất là việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng trong hoạt động thực tiễn của cấp ủy, tổ chức đảng chất lượng, hiệu quả còn chưa đạt yêu cầu, thậm chí có nơi làm còn hình thức.

Chất lượng hoạt động của tổ chức đảng còn nhiều bất cập: Có nơi thực hiện không đầy đủ, méo mó hoặc làm chiếu lệ những nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt cơ bản của Đảng như nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Chế độ sinh hoạt còn nặng tính hình thức, bệnh thành tích còn khá phổ biến dẫn tới che giấu khuyết điểm, còn có hiện tượng xuê xoa cả nể trong đấu tranh phê bình. Một số tổ chức đảng có trọng trách, thẩm quyền thiếu quan tâm sâu sát, chưa thường xuyên, tiến hành kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên do mình quản lý nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng nên không chủ động phát hiện được các vụ việc tiêu cực, bê bối, nhất là tham nhũng liên quan trực tiếp tới cán bộ đảng viên để ngăn chặn, chấn chỉnh hoặc xử lý kịp thời, lại do quần chúng tố giác, báo chí và dư luận xã hội phê phán làm suy giảm uy tín của tổ chức đảng.

Trong sinh hoạt, tình trạng “ngại nói thật” vì sợ mất lòng là khá phổ biến. Trong nội dung sinh hoạt, không có chủ đề, nội dung cụ thể, đôi khi là tuỳ tiện “tranh thủ” sinh hoạt cùng với nhiệm vụ chuyên môn dẫn tới tình trạng tổ chức đảng chưa thực sự là nơi sinh hoạt tư tưởng để cấp uỷ nắm bắt và hiểu hết tâm tư, nguyện vọng của đảng viên làm cho đảng viên thiếu “mặn mà” với sinh hoạt đảng. Từ sự thờ ơ dẫn đến sự thiếu thẳng thắn, ý thức, tinh thần chiến đấu không cao, không phát huy được trí tuệ tập thể, tính giáo dục, vai trò lãnh đạo hạt nhân chính trị ở cơ quan, tổ chức giảm sút. Cơ chế phát huy vai trò giám sát của nhân dân và các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể hiệu quả chưa cao.

- Một số tổ chức đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn trong các cơ quan nhà nước (bộ, ngành ở Trung ương, địa phương - nơi có ban cán sự đảng, đảng đoàn) chưa chủ động ban hành và tổ chức nghiêm túc quy chế phối hợp với đảng uỷ cơ quan, chưa thực hiện tốt việc phối hợp với thủ trưởng, lãnh đạo cơ quan. Trong một số trường hợp, người đứng đầu tổ chức đảng (ban cán sự đảng, đảng đoàn) hoặc cấp uỷ của cơ quan, đơn vị có tư tưởng độc đoán, chuyên quyền hoặc ngụy biện, giản đơn đã bất chấp nguyên tắc, thực hiện trái thẩm quyền, trách nhiệm dẫn tới vi phạm nguyên tắc, quy trình, thủ tục, nhất là trong công tác cán bộ, quyết định thực hiện các chủ trương, dự án đầu tư... dẫn đến sai phạm của cá nhân và khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, vi phạm của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt của cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước. Cũng có tình trạng người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước do chủ nghĩa cá nhân, chuyên quyền, độc đoán, vụ lợi, đã lợi dụng cơ chế tập thể để hợp pháp hoá quyết định, thực hiện ý đồ cá nhân trong quyết định công tác cán bộ (đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyên, điều động, điều chuyển vị trí công tác của cán bộ dưới quyền...), các thành viên trong cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước do còn nể nang, né tránh, ngại va chạm, dĩ hoà vi quý đã để người đứng đầu cấp uỷ, ban cán sự đảng, đảng đoàn lạm quyền, lộng quyền, tự tung tự tác, bất chấp nguyên tắc, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước để làm trái nhằm trục lợi cho bản thân hoặc người thân trong gia đình theo kiểu “hậu duệ, quan hệ, tiền tệ... hoặc vì nhóm lợi ích...

3- Một bộ phận đảng viên, nhất là đảng viên là cấp uỷ viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, chưa thực hiện tốt vai trò tiền phong, gương mẫu trong hành động và trước quần chúng nhân dân, trước cán bộ, công chức dưới quyền; cán bộ, đảng viên có chức, có quyền còn chưa làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao

Bên cạnh những cán bộ, đảng viên phát huy tốt vai trò tiền phong gương mẫu của mình thì còn có một bộ phận giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân; thiếu trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ. Thực trạng, tình hình cán bộ nêu trên đã được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty.... Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.

Do suy thoái về chính trị, tư tưởng dẫn đến suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, rơi vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cực đoan, cơ hội, vụ lợi, thực dụng; dĩ hòa, vi quý, nói dựa, lấy lòng nhau; tư duy nhiệm kỳ, bệnh thành tích; bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm, mất đoàn kết; tham nhũng, lãng phí; phong cách quan liêu, lối sống xa hoa, hưởng lạc; có hiện tượng chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng; tùy tiện vô nguyên tắc, vô kỷ luật; xa dân, vô cảm trước sự khó khăn, bức xúc của dân; thiếu gương mẫu trong việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan, đơn vị và đời sống sinh hoạt hằng ngày.

Trong khi đó, một bộ phận cán bộ, đảng viên là người đứng đầu chưa xác định rõ và thực hiện đúng, đầy đủ thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân thường dựa dẫm vào tập thể để khi làm sai sẽ không ai chịu trách nhiệm. Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi chỉ chung chung, hình thức đã tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ, vượt quyền hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân.

Bên cạnh đó là cơ chế, quy định không rõ, làm cho người lãnh đạo không đủ quyền năng để hành động, chưa có quy định khuyến khích cá nhân người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, hành động quyết liệt, dám chịu trách nhiệm, với tấm lòng trong sáng, vì dân, vì Đảng, tạo ra chuyển biến, kết quả rõ nét, nhưng khi có sai sót, lại chưa được đánh giá đầy đủ và sử dụng đúng. Ngược lại, một số người đứng đầu giữ gìn, ngại va chạm, theo cách giữ mình, thủ thế, “chủ nghĩa tập thể” hình thức, dựa dẫm, mọi việc bình thường, không “sai phạm lớn”, có khi lại được trọng dụng hoặc lợi dụng quyền lực một cách tinh vi là cơ sở cho sự nể nang, né tránh, co cụm, thoả hiệp vì lợi ích nhóm, thu vén cho bản thân lại có cơ hội phát triển.

4. Bối cảnh và những thách thức đặt ra đối với việc tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong cơ quan nhà nước

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta là một Đảng Cộng sản cầm quyền, một mặt phải chống lại các thế lực thù địch đang âm mưu “diễn biến hòa bình”, sử dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo, sử dụng chiêu bài đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hòng từng bước làm thay đổi chế độ chính trị nhằm từng bước hạn chế, đi đến xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống chính trị và Nhà nước ta.

Quá trình mở cửa nền kinh tế và hội nhập quốc tế kéo theo sự tác động lớn về mọi mặt. Đội ngũ cán bộ, đảng viên dễ bị ảnh hưởng bởi cơ chế thị trường, nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Mặt khác, Đảng phải lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Những nhân tố trên có thể nói vừa là thuận lợi, thời cơ nhưng cũng là thách thức, nguy cơ rất lớn với vai trò lãnh đạo của Đảng, nếu những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trên của tổ chức đảng và đảng viên, nhất là trong các cơ quan nhà nước tiếp tục kéo dài, thậm chí qua nhiều nhiệm kỳ và chậm được khắc phục sẽ là nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

5- Một số nhiệm vụ giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan nhà nước thông qua tổ chức đảng và đảng viên

 Trong giai đoạn tới, để thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI và khoá XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng thời thực hiện tốt hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng đặc biệt qua tổ chức đảng và đảng viên trong cơ quan nhà nước, hướng tới xây dựng nước Việt Nam độc lập, tự chủ, hội nhập, vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp sau:

5.1- Hoàn thiện nhận thức về phương thức lãnh đạo, đồng bộ hóa các quy định làm nền tảng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước thông qua tổ chức đảng và đảng viên

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về phương thức lãnh đạo của Đảng thời kỳ mới trong cơ quan, tổ chức nhà nước như chủ trương của Đại hội XI đã nêu: Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình đổi mới, không ngừng phát triển lý luận, đề ra đường lối và chủ trương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; khắc phục một số mặt lạc hậu, yếu kém của công tác nghiên cứu lý luận. Tạo môi trường dân chủ thảo luận, tranh luận khoa học, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của cá nhân và tập thể trong nghiên cứu lý luận... Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan nghiên cứu lý luận, cải tiến tổ chức nghiên cứu lý luận phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn. Tổng kết 30 năm đổi mới đất nước.

Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đòi hỏi phải tiếp tục giải quyết tốt sự phân định, mối quan hệ phân công, phối hợp giữa các thiết chế tổ chức, giữa cá nhân và tập thể trong hoạt động lãnh đạo của Đảng và trong điều hành, quản lý của Nhà nước, cần phân biệt thẩm quyền, trách nhiệm giữa người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng với người đứng đầu chính quyền trong quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị và phải được xem là điểm mấu chốt của sự phân định đặc trưng lãnh đạo của Đảng và tổ chức Đảng với đặc trưng điều hành, quản lý của Nhà nước và cơ quan nhà nước.

Đối với vấn đề hệ thống tổ chức đảng, tuy bước đầu, các tổ chức đảng đã được thành lập tương ứng với các cơ quan nhà nước nhưng một số mô hình như đảng bộ khối ở cấp Trung ương và cấp tỉnh đã có bộc lộ những bất cập về tổ chức, hoạt động trên thực tiễn phải rà soát, tiến hành nghiên cứu thực tế, nếu cần thiết thì cơ cấu lại mô hình tổ chức, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ các tổ chức này cho phù hợp với thực tế yêu cầu, đòi hỏi bảo đảm sự thiết thực, đúng với quy định tại Khoản 1, Điều 10, Điều lệ Đảng (khoá XII): “Hệ thống tổ chức của Đảng được lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước”.

- Hoàn thiện quy chế hoạt động của cấp uỷ, ban cán sự đảng, đảng viên trong các cơ quan nhà nước, quy chế phối hợp giữa ban cán sự đảng, đảng đoàn với cấp uỷ cơ quan; quy chế phối hợp giữa ban cán sự đảng, đảng đoàn, cấp uỷ với thủ trưởng, tập thể lãnh đạo cơ quan nhà nước và tổ chức thực hiện, công tác. Tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát hoạt động của người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ chủ chốt là người đứng đầu cơ quan, tổ chức nhà nước trong thực thi chức trách, nhiệm vụ, nhất là trong công tác cán bộ. Trong đó, chú trọng vai trò gương mẫu của người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, đồng thời là người đứng đầu cơ quan, tổ chức nhà nước.

Quy định cụ thể vấn đề “xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị…” ([1]). Đây là nội dung quan trọngđã được nêu trong nhiều nghị quyết về xây dựng Đảng, đặc biệt trong nhiệm kỳ IX và X do còn thiếu quy định về chế độ trách nhiệm, chưa xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm là một trong những hạn chế, yếu kém nổi bật. Điều này cho thấy, nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức.

5.2- Đổi mới hoạt động của tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước

- Cần làm tốt và quản lý nghiêm chế độ sinh hoạt trong Đảng. Đây là hoạt động có vai trò tác dụng to lớn đối với năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảm bảo cho tổ chức đảng và mỗi đảng viên thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình do cần phải lãnh đạo mọi vấn đề liên quan đến thực hiện nhiệm vụ sao cho sát hợp với đường lối, quan điểm của Đảng, sát với thực tế, làm cho các mặt công tác đạt hiệu quả cao. Đây cũng được xem là môi trường rèn luyện ý thức và bản lĩnh đảng viên, là nơi thực hành trực tiếp văn hóa Đảng. Theo đó, yêu cầu trước hết là sinh hoạt phải có kế hoạch, chương trình và nội dung cụ thể. Trong sinh hoạt, tổ chức đảng phải thảo luận quán triệt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ của cơ quan và các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên. Thảo luận quyết nghị các nội dung công tác của tổ chức đảng để lãnh đạo cơ quan, đơn vị thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên. Định hướng và tổ chức các hoạt động thực hiện của cán bộ đảng viên và quần chúng trong đơn vị đạt hiệu quả cao. Không được biến buổi sinh hoạt đảng thành hoạt động hành chính đơn thuần; bám sát các yêu cầu hay nói cách khác là nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt: “Phải làm đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách... Nội bộ phải thật đoàn kết. Mọi việc đều bàn bạc một cách dân chủ và tập thể”([2]), “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”([3]) nhằm tạo sức sống, sức chiến đấu cho tổ chức đảng; là kênh nhận diện các vấn đề phát sinh trong tổ chức Đảng và đề ra biện pháp giải quyết được kịp thời.

Công tác cán bộ phải được làm bài bản, bởi những tổ chức đảng, đảng viên có trách nhiệm với Đảng: Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định: “công tác cán bộ đặc biệt quan trọng, là then chốt của mọi then chốt”. Tuy Trung ương đã có quy định, hướng dẫn về từng khâu của công tác cán bộ nhưng nếu cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên có trách nhiệm thực hiện máy móc, thiếu trách nhiệm thì hậu quả khôn lường. Nhận thức đây là vấn đề hệ trọng, ngay tại Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã làm gương thực hiện công tác cán bộ một cách khoa học, phát huy tính dân chủ tập trung. Từ đó, đòi hỏi Từ đó, yêu cầu mỗi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên có trách nhiệm cần tích cực tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Đồng thời, với việc tổ chức khâu đánh giá và xử lý cán bộ yếu kém; các cơ chế, chính sách đã lạc hậu phải được rà soát, loại bỏ để xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, trọng tâm là đánh giá cán bộ, xây dựng tiêu chuẩn cán bộ theo chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ làm cơ sở cho việc quy hoạch, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ; quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, đồng thời là người đứng đầu cơ quan, tổ chức nhà nước. Trong công tác cán bộ, một số khâu cần nghiên cứu, sửa đổi quy định, hướng dẫn theo hướng tăng cường tính dân chủ, tập thể trong thảo luận, giới thiệu nhân sự; việc lấy phiếu tín nhiệm phải tiến hành công khai, minh bạch, bảo đảm dân chủ thực chất; quy định cơ chế thực hiện lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ, đảng viên, người giữ chức vụ trong cơ quan, tổ chức nhà nước các cấp. Khi đã có kết quả cụ thể cần có biện pháp xử lý kết quả phù hợp. Mạnh dạn xem xét, cho thôi giữ chức vụ, không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác nếu cán bộ không còn được tín nhiệm. Kết hợp với thí điểm tiến cử, chế độ tập sự lãnh đạo quản lý; thực hiện quy trình giới thiệu nhân sự theo hướng những người được dự kiến đề bạt, bổ nhiệm phải trình bày đề án hoặc chương trình hành động trước khi cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Tiếp tục thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh cán bộ chủ chốt ở cấp tỉnh, cấp huyện không phải là người địa phương; thực hiện bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ trì cấp trên nói chung phải qua chức vụ lãnh đạo quản lý chủ trì ở cấp dưới. Tiếp tục thực hiện thí điểm chủ trương bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện; sơ kết, tổng kết  rút kinh nghiệm để hoàn thiện chủ trương về việc đại hội đảng bộ từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở trực tiếp bầu bí thư cấp ủy có số dư; Thí điểm giao quyền cho bí thư cấp ủy lựa chọn giới thiệu để bầu cử ủy viên thường vụ cấp ủy; cấp trưởng có trách nhiệm lựa chọn, giới thiệu nhân sự để bầu cử, bổ nhiệm cấp phó.

Tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo của Đảng cũng như khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước mà phải kết hợp hoạt động lãnh đạo của Đảng với quản lý của nhà nước. Vì đường lối, chính sách của Ðảng không thay cho luật pháp, Đảng không nên và không thể làm thay cho cơ quan hành chính nhà nước. Các nghị quyết của Đảng không mang tính quyền lực pháp lý. Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng. Không cứng nhắc tách bạch hoạt động lãnh đạo của Đảng với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn mà mỗi tổ chức đảng, đảng viên trong thực hiện vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng cần linh hoạt, đề cao kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn gắn với tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa đảng với nhân dân. Từ đó đúc rút kinh nghiệm, nghiên cứu và có đề xuất giải pháp, biện pháp mới nhằm củng cố phương hướng, cách thức giúp cho Đảng làm tốt hơn vai trò lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong cơ quan nhà nước trong tình hình hiện nay.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong hoạt động của cơ quan nhà nước thông qua hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên. Thông qua kiểm tra, giám sát để xác định rõ mặt tốt, hiệu quả, tính thực tế của các chủ trương, chính sách mà Đảng đề ra. Từ đó, phát huy, nhân rộng những mặt tích cực, hiệu quả, kịp thời khắc phục, sửa chữa khiếm khuyết trong công tác lãnh đạo. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: ”Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của các cán bộ và đảng viên”([4]). Nếu không có kỷ luật, không thống nhất về tư tưởng và hành động. ”Đảng sẽ xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ”([5]). Từ việc phải tuân thủ kỷ luật của Đảng, mỗi đảng viên dù ở cương vị nào, mỗi cấp uỷ dù ở cấp nào cũng phải nghiêm túc chấp hành kỷ luật của Đảng, của các đoàn thể và pháp luật của Nhà nước. Bác coi lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo. Kiểm tra, giám sát giúp cho các cấp lãnh đạo biết được nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng, của cấp uỷ có đúng, có phù hợp với thực tiễn hay không, giúp cho tổ chức đảng, người lãnh đạo, quản lý biết được việc triển khai thực hiện như thế nào. Từ đó, mà có giải pháp giúp nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, ngăn chặn tình trạng lạm quyền, độc đoán, gia trưởng. Nếu cần thiết thì bằng sức mạnh của tổ chức, bằng kỷ cương, kỷ luật của Đảng gắn với kỷ luật hành chính để bảo đảm mọi tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.

Để cụ thể hóa nội dung này, cần nghiên cứu tăng thẩm quyền để ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện nhiệm vụ ngày càng tốt, hiệu quả hơn; giúp tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức đảng và đảng viên trong cơ quan nhà nước, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, từ hoạch định, tuyên truyền, giáo dục, tổ chức thực hiện trên thực tế tới việc chấp hành, nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu.

5.3- Phát huy tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên nói chung và đảng viên giữ vị trí chủ chốt trong cơ quan nhà nước nói riêng

Người cán bộ, đảng viên trước hết phải nhận thức sâu sắc Đảng là một tổ chức cách mạng, vào Đảng là để phấn đấu hy sinh cho cách mạng, cho Đảng, cho dân chứ không phải để tìm kiếm lợi ích riêng tư, danh vọng, địa vị. Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Từ đó, mỗi đảng viên, cán bộ phải tự tu dưỡng, tự rèn luyện, nêu cao lòng trung thành, chấp nhận hy sinh, tự giác thực hiện bổn phận, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với Đảng, với Nhà nước, phục vụ và làm gương tốt cho quần chúng.

Việc nêu gương cần thể hiện cụ thể trước hết ở việc chấp hành chế độ, nền nếp sinh hoạt, các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng. Đồng thời, bản thân đảng viên phải có kế hoạch hành động cụ thể, rõ ràng, sát với thực tế, đúng chức năng, nhiệm vụ được, có lộ trình, thời gian thực hiện, bảo đảm điều kiện thực hiện, phân công rõ người, rõ việc, tránh rập khuôn, sao chép, làm qua loa, làm cho xong chuyện. Bên cạnh đó, cần xem xét có quy định về chế độ trách nhiệm, nghĩa vụ của đảng viên đối với tổ chức mình, đồng chí mình, cần có biện pháp, chế độ đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng thế hệ kế cận. Mặt khác, đảng viên là cán bộ, công chức phải gương mẫu, chủ động, tích cực, sáng tạo thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao để công chức không phải là đảng viên noi theo. Tích cực đấu tranh chống tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới trong công tác, tư tưởng cục bộ, địa phương, ngại khó, ngại khổ, sự thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước tổ chức, nhân dân, chống tệ quan liêu, tiêu cực, lãng phí, thực hành tiết kiệm, chống hình thức, xa hoa, quan liêu, xa dân.

Đối với người đứng đầu thì cần làm rõ: Trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức đảng về mọi mặt. Có thể nói thẩm quyền gắn liền với trách nhiệm (nghĩa vụ, bổn phận). Nếu tách rời giữa thẩm quyền với trách nhiệm cũng như lẫn lộn, chồng chéo giữa thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy với người đứng đầu cấp chính quyền, giữa cá nhân với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị thì sẽ tự tạo ra cản trở việc thực hiện đúng thẩm quyền, sẽ dẫn tới làm sai, làm trái thẩm quyền và tình trạng thoái thác trách nhiệm, không xử lý khuyết điểm, thiếu sót, sai lầm theo đúng chế độ trách nhiệm. Hậu quả là làm yếu tổ chức và làm hỏng cán bộ. Chú trọng thực hiện nguyên tắc quyền đến đâu trách nhiệm tới đó. Giữ hai mặt quyền và nghĩa vụ phải được xác định tương thích với nhau. Thẩm quyền càng cao trách nhiệm phải càng lớn. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phải là người thực sự “đứng mũi chịu sào”, nhận trách nhiệm cao nhất về việc thực hiện trách nhiệm, thẩm quyền, phải chịu trách nhiệm cao nhất về những gì xảy ra trong cơ quan, tổ chức, địa phương mà mình phụ trách.

Thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy là lãnh đạo, là cùng với tập thể cấp ủy thực hiện sự lãnh đạo chính trị của Đảng theo đường lối, chủ trương, nghị quyết, quyết sách của Đảng. Sự lãnh đạo chính trị ấy là toàn diện, các mặt, đảm bảo đúng quan điểm, nguyên tắc, phương hướng chính trị, tăng cường lãnh đạo tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận, gắn với tuyên truyền, vận động, giáo dục và kiểm tra, giám sát. Trong khi đó, thẩm quyền của người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước là cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng vào đời sống xã hội, là quản lý bằng pháp luật, có cơ chế, chính sách phù hợp để thực hiện các mục tiêu mà Đảng đã đề ra. Song, người đứng đầu cơ quan chính quyền cũng là người ở trong cấp ủy, trong tập thể cấp ủy. Đó là chỗ cùng phải chịu trách nhiệm chung nhưng không biến thành sự đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Theo Lênin, trách nhiệm phải thuộc về từng người một. Người có thẩm quyền, có quyền quyết định và người đứng đầu có quyền quyết định cao nhất nhưng phải chịu trách nhiệm về các quyết định đưa ra. Quyết sai, làm sai, gây hậu quả phải bị xử lý theo trách nhiệm. Cán bộ có thẩm quyền đề cử, giới thiệu cán bộ vào bầu cử, bổ nhiệm lãnh đạo, quản lý thì phải chịu trách nhiệm về việc giới thiệu, bố trí cán bộ, tiến cử người vào bộ máy./.

 

Cao Văn Thống

Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

Nguồn Hội đồng lý luận Trung ương

 


[1] Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, 1996, t, tr. 36

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1996, t12, tr.498

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H.2005, T10, tr.311

[5] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Sđd, T05, tr.258

 

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Xem nhiều nhất

Liên kết website