Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp đổi mới

Chủ nghĩa Mác - Lê nin khẳng định: Nhân dân là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và những giá trị tinh thần, là người làm nên lịch sử, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Nhân dân là lực lượng cơ bản và là động lực của mọi cuộc cách mạng. Phát triển sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định “Dân là gốc của nước” của cách mạng mà còn đặt nhân dân ở vị trí tối thượng: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”. Dân là chủ: “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, Người còn chỉ rõ: Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân. Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Dân rất rộng, người trong Đảng cũng như người ngoài Đảng đều có thể đồng tình, chấp thuận. Người yêu cầu Đảng phải tập hợp, thu hút những phần tử ưu tú của công nhân, nông dân, trí thức… thực hiện những nhiệm vụ cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc. Người nhấn mạnh: Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận ưu tú nhất của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân Việt Nam. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng cũng chính là vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Gắn bó “máu thịt” với nhân dân là vấn đề thuộc bản chất cách mạng của Đảng ta vì sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, vì nhân dân và nhân dân cần Đảng dẫn đường, lãnh đạo. Trong lịch sử Đảng ta, mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân luôn luôn được củng cố và tăng cường. Đảng ta từ khi ra đời đến nay đã tỏ rõ là một Đảng cách mạng chân chính, hết lòng, hết sức phấn đấu vì lợi ích của nhân dân. Cán bộ, đảng viên luôn gương mẫu đi tiên phong trong các cuộc đấu tranh cách mạng. Nhân dân gắn bó với Đảng, theo Đảng làm cách mạng, dũng cảm chịu đựng mọi hy sinh gian khổ mất mát để bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng. Đảng ta với số lượng lúc đầu rất ít đảng viên nhưng đã đoàn kết, tập hợp được đông đảo nhân dân đánh thắng những đế quốc to, giải phóng dân tộc, từng bước đưa cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong trái tim của người Việt Nam chỉ thừa nhận một Đảng cầm quyền lãnh đạo đó là Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng của Bác Hồ. Thật hiếm có một đảng nào trên thế giới được nhân dân tin yêu, mến mộ và gọi là “Đảng ta”. Do gắn bó với dân, Đảng đã đi sâu tổng kết hoạt động thực tiễn sáng tạo của nhân dân, bổ sung, phát triển đường lối lãnh đạo của mình. Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chủ trương xây dựng ba thứ quân, phương châm “hai chân”, “ba mũi”, cách đánh của đặc công, dân quân tự vệ cũng đều là sáng kiến của dân. Sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước cũng bắt đầu từ dân, nguồn gốc Chỉ thị số 100-CT/TW về “khoán 10” đã tạo ra một động lực mới trong sản xuất nông nghiệp, giải quyết được lương thực, thực phẩm, đảm bảo đời sống của dân, chính là từ sáng kiến của nông dân. Trong lúc chúng ta còn đang lúng túng giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường thì sáng kiến xoá đói giảm nghèo đã xuất hiện ở nhiều địa phương, cơ sở. Đảng đã kịp thời tổng kết sáng kiến này và lãnh đạo đưa thành chương trình mục tiêu quốc gia và cuộc vận động lớn trong toàn dân về xoá đói giảm nghèo và hiện nay thực hiện: “Chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững”. Phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở cũng đều bắt nguồn từ sáng kiến của dân. Nhân dân không phải chỉ có nêu sáng kiến, mà khi sáng kiến của mình trở thành đường lối của Đảng thì chính nhân dân lại là người thực hiện hăng hái, có hiệu quả. Đảng đã khẳng định: “Chính những ý kiến, nguyện vọng của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay”[1]. Mối quan hệ giữa Đảng và dân là mối quan hệ hai chiều. Nhân dân cần có Đảng lãnh đạo để làm cách mạng giải phóng cho mình thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc. Đảng cần có dân để có sức mạnh vững chắc về tinh thần, trí tuệ. Có dân là có tất cả. Mất dân cũng có nghĩa là mất tất cả. Vẫn còn đó, bài học đau xót về sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, khi chính nhân dân các nước này chứ không phải ai khác đã không đứng ra bảo vệ Đảng Cộng sản, vẫn là tiếng chuông cảnh báo đối với chúng ta về nguy cơ xa dân, mất chỗ dựa ở dân. Sinh thời, Bác Hồ nhiều lần nhấn mạnh: Đảng phải gần dân, tin dân, trọng dân, học dân để lãnh đạo dân. Với ý nghĩa sâu sắc đó, tăng cường và củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân là vấn đề có tính quy luật trong sự hình thành, tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam.

1.Khi đã trở thành Đảng cầm quyền, mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trước hết và chủ yếu thể hiện ở mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân. Trước đây, khi chưa có chính quyền, Đảng phải thông qua cán bộ, đảng viên, thông qua Mặt trận và các đoàn thể để thiết lập mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Cán bộ, đảng viên sống trong lòng dân, được dân nuôi, đùm bọc, che chở, bảo vệ, lãnh đạo nhân dân làm cách mạng giành chính quyền. Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trở thành mối quan hệ tự nhiên, hết sức gần gũi. Ngày nay, Đảng ta đã trở thành một Đảng cầm quyền lãnh đạo chính quyền Nhà nước quản lý đất nước và toàn bộ xã hội. Phần đông cán bộ, công chức Nhà nước là đảng viên. Do đó, mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân chủ yếu thể hiện ở mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân thông qua pháp luật, chính sách, thông qua hoạt động thực thi công vụ của cán bộ, công chức Nhà nước. Đảng luôn luôn chăm lo xây dựng và củng cố chính quyền, đề phòng xu hướng lạm dụng quyền lực của bộ máy Nhà nước. Ngay từ những ngày đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện, làng phê phán các lỗi lầm cậy quyền, cậy thế và nhắc nhở cán bộ chính quyền phải là công bộc của dân. Trong bài báo Dân vận (ngày 15/10/1949), đề cập vấn đề ai phụ trách dân vận, Người đặt lên hàng đầu: “Tất cả cán bộ chính quyền đều phải phụ trách dân vận”. Thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết về xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân. Từ năm 2000 đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Chỉ thị, kết luận về Tăng cường công tác dân vận, nhằm nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền và cán bộ công chức đối với công tác dân vận, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân, làm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững. Thực hiện các nghị quyết của Đảng, các cấp chính quyền đã có nhiều chuyển biến, tiến bộ, đề ra được nhiều chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, nhằm phát huy tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân, phối hợp ngày càng chặt chẽ hơn với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên để cùng làm tốt công tác dân vận. Song, phải thừa nhận rằng, sự chuyển biến tiến bộ ở một số địa phương, trên một số lĩnh vực của đời sống xã hội còn chậm, chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình và yêu cầu nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Một số cán bộ chính quyền vẫn còn quan niệm : công tác dân vận là công tác của cán bộ đoàn thể, nếu có thêm là của cán bộ làm công tác Đảng. Còn cán bộ chính quyền làm công việc cầm quyền, công việc hành chính, quản lý xã hội bằng pháp luật, không làm công tác vận động quần chúng. Quan niệm như vậy chưa đúng, chưa đầy đủ và rất sai lầm. Cán bộ chính quyền chỉ làm công tác hành chính mà không hiểu công tác dân vận, không thực sự làm dân vận thì chưa thể là những cán bộ công chức cách mạng, công bộc của dân. Bệnh quan liêu trong bộ máy chính quyền của chúng ta vẫn còn rất nặng. Lênin đã từng cảnh báo: cái làm cho chúng ta thất bại, chính là bệnh quan liêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ. Bệnh quan liêu cộng với tình trạng tham nhũng là kẻ thù rất nguy hiểm gây bất bình trong nhân dân. Sự bất cập trong công tác quản lý và sự thoái hoá, biến chất “ tự diễn biến, tự chuyển hoá” trong nội bộ của một số cán bộ, đảng viên, công chức Nhà nước, đang ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, làm xói mòn đến mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, là một nguy cơ lớn đối với sự sống còn của Đảng, của chế độ. Chúng ta cần nhận thức sâu sắc rằng, dân vận thời kỳ hiện nay không thể dừng lại ở những lời kêu gọi chung chung hoặc chạy ở vòng ngoài cuộc sống mà dân vận phải đi thẳng vào cuộc sống của nhân dân để vận động, thuyết phục dân. Phái sát dân, nắm dân, hiểu dân, tôn trọng dân. Nói đến cuộc sống không thể không nói đến mối quan hệ của nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Nhà nước. Người làm chính sách cũng như những người đưa chính sách đến với nhân dân nếu không quán triệt quan điểm dân vận sâu sắc thì dễ mắc sai lầm, có hại. Cán bộ Mặt trận, đoàn thể cũng phải quán triệt chủ trương, chính sách để vận động nhân dân. Người xây dựng chủ trương, chính sách cũng như tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách đều có vai trò quan trọng trong công tác dân vận. Với ý nghĩa đó, không thể coi nhẹ công tác dân vận của chính quyền. Chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước là phương hướng dân vận hàng đầu và sự công minh, liêm chính của các cấp chính quyền là thế mạnh của dân vận trong thời kỳ mới. Nhà nước cần phải tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, coi đó là yêu cầu, đòi hỏi bắt buộc đối với cán bộ công chức Nhà nước trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ phục vụ nhân dân. Cần thực hiện tốt công tác tiếp dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng chính đáng của dân; tăng cường đối thoại với dân để có biện pháp giải quyết những vướng mắc, bức xúc của dân trong đời sống xã hội, tạo nên sự đồng thuận và sự hài lòng của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao đời sống của nhân dân.

 2.Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân còn được thể hiện ở mối quan hệ giữa Mặt trận và các đoàn thể với nhân dân. Mặt trận và các đoàn thể nước ta đóng vai trò đại diện cho lợi ích chung và lợi ích của các giai tầng trong xã hội; đồng thời, là cầu nối giữa Đảng, chính quyền với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền lợi của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với Chính phủ”[2]. Tính chất của đoàn thể là tổ chức của dân, Đảng giúp  dân tổ chức ra đoàn thể; lãnh đạo đoàn thể không thể theo kiểu bao biện, làm thay mà phải tôn trọng điều lệ, quy chế của đoàn thể. Đảng tôn trọng Mặt trận và các đoàn thể cũng chính là tôn trọng nhân dân. Chức năng của đoàn thể là phấn đấu cho dân, bênh vực quyền lợi của dân, liên lạc mất thiết giữa nhân dân với các cơ quan Nhà nước. Mặt trận và các đoàn thể  thực hiện sự phản biện xã hội và đại diện cho nhân dân giám sát hoạt động của Đảng và Nhà nước có liên quan đến lợi ích chính đáng, thiết thực của nhân dân.

 Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Mặt trận và các đoàn thể đã vượt ra khỏi tình trạng trì trệ, có những tiến bộ rõ về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp được thêm đoàn viên, hội viên. Cùng với các đoàn thể chính trị - xã hội, có thêm nhiều hội nghề nghiệp, văn hoá, nhân đạo, từ thiện, hữu nghị…phát huy vai trò tập hợp, đoàn kết quần chúng nhân dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhiều cuộc vận động và phong trào thi đua yêu nước do Mặt trận và các đoàn thể khởi xướng, vận động nhân dân thực hiện đã có ý nghĩa to lớn như: xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa; “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”; “ xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; phong trào sản xuất kinh doanh giỏi, sáng tạo, khởi nghiệp, “ người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, “ xây dựng xã hội học tập”… đang có sức hấp dẫn thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia. Đặc biệt, vào những tháng đầu năm 2020 đại dịch COVID – 19 đã lan rộng ra trên toàn cầu rất gay go, phức tạp, tác động sâu sắc toàn diện tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia, trong đó có nước ta liên quan đến sức khoẻ và sự sống của nhân dân. Hưởng ứng Lời kêu gọi của Tổng Bí Thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: “ Chống dịch như chống giặc”, cả nước chung sức, đồng lòng để chiến thắng đại dịch COVID-19! Đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài đã đoàn kết một lòng thống nhất ý chí và hành động, đang ra sức thực hiện quyết liệt những chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của Ban Chỉ đạo quốc gia, của Bộ Y tế và chính quyền các cấp để chiến thắng đại dịch này, đem lại sức khoẻ và cuộc sống bình an, hạnh phúc cho nhân dân . Trong dịch bệnh nhân dân ta lại tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, thực hiện “ cách ly toàn xã hội”, mỗi một người vì mọi người, mỗi gia đình vì cộng đồng và toàn xã hội để tránh sự lây lan của dịch bệnh. Thực hiện công tác dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã đã sát cánh cùng với chính quyền, các cơ quan y tế, quân đội, công an có nhiều biện pháp, hình thức vận động nhân dân phòng chống dịch có hiệu quả “ đến từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người” để kê khai y tế. Vận động sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức ủng hộ vật chất và tinh thần để hộ trợ cho các bệnh viện, các trung tâm, cơ sở tuyến đấu chống dịch có hiệu quả tốt; đồng thời, đảm bảo lương thực, thực phẩm, các nhu yếu phẩm cho sinh hoạt bình thường hàng ngày trong cuộc sống của mỗi người dân, gia đình trong thời gian dập dịch. Tính đến ngày 10/5/ 2020 các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, doanh nhân và người dân đã ủng hộ gần 2000 tỷ đồng gửi về Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để xây dựng quỹ phòng, chống đại dịch COVID – 19. Một lần nữa khẳng định mối quan hệ gắn bó bền chặt của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy rằng, Mặt trận và các đoàn thể ở một số nơi chưa khắc phục được cách hoạt động theo kiểu hành chính; phương thức công tác dân vận vẫn còn nhiều lúng túng, hiệu quả chưa cao, chưa sát đoàn viên, hội viên và nhân dân. Tỷ lệ tập hợp nhân dân còn thấp, lực lượng nòng cốt mỏng, đội ngũ cán bộ đoàn thể chưa được chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, động viên nên nhiều người thiếu phấn khởi công tác. Có tình trạng ở một số không ít cơ sở, khi xảy ra vấn đề phức tạp, nhạy cảm, đoàn thể không nắm được tình hình, không phát huy được vai trò đoàn viên, hội viên. Yêu cầu tăng cường thực sự vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hiện nay được đặt ra rất bức thiết. Mặt trận và đoàn thể của chúng ta còn một số mặt yếu không có nghĩa là chúng ta không cần có Mặt trận và đoàn thể. Bộ máy chính quyền dù đồ sộ đến đâu, ngân sách Nhà nước dù có to lớn đến đâu cũng không thể đến vận động từng hộ, từng người được; trong khi đó, thế mạnh của Mặt trận, đoàn thể lại chính là ở mặt này. Do vậy, chính quyền phải chủ động phối hợp tốt với Mặt trận và đoàn thể để vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có liên quan đến đời sống của nhân dân.

3.Chăm lo đến lợi ích thiết thực của nhân dân thì mối quan hệ giữa Đảng và dân ngày càng gắn bó, phong trào quần chúng phát triển, hệ thống chính trị không ngừng được củng cố vững mạnh. Đảng lãnh đạo chính quyền quản lý, phát triển xã hội, điều quan trọng nhất là các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân, phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân, đảm bảo sự hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, thống nhất giữa quyền lợi và nghĩa vụ công dân. Những chủ trương, chính sách trong thời kỳ đổi mới nhằm phát triển sản xuất, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, phát huy dân chủ đã góp phần củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Do nhiều nguyên nhân, vấn đề bức xúc hiện nay là đời sống của một bộ phận nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp, thậm chí có nơi còn rất thấp; sự chênh lệch mức sống ngày càng xa giữa thành thị và nông thôn; sự thiếu công bằng xã hội ở một số lĩnh vực; tình trạng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân vẫn còn diễn ra; nạn tham nhũng, lãng phí, nhất là tham nhũng vặt vẫn chưa được ngăn chặn và đẩy lùi mà còn diễn ra rất tinh vi hơn, làm mất lòng tin của dân, gây bất bình và lo lắng trong dân; làm xói mòn mối quan hệ tốt đẹp, truyền thống giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân mà biểu hiện rõ nhất là các vụ khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo của dân về đất đai, nhà ở, bất động sản, vệ sinh môi trường, BOT, trật tự an toàn xã hội…. đang diễn biến hết sức phức tạp chưa được giải quyết một cách triệt để. Trong công tác dân vận, chúng ta cần rút ra bài học phải quan tâm đến những lợi ích thiết thực của dân. Nhiều khi Đảng và Nhà nước làm rất nhiều việc chăm lo đến những lợi ích cơ bản của nhân dân, nhưng ở một số nơi lại không chú ý đến những việc nhỏ liên quan đến những lợi ích thiết thực của dân. Các thế lực phản động đã chú ý khai thác mặt yếu này để tranh thủ quần chúng của chúng ta. Cho nên, chúng ta phải gần dân, sát địa bàn, cơ sởCơ sở là địa bàn trọng yếu của hệ thống chính trị, nơi thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật; nơi trực tiếp và thường xuyên diễn ra mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Song, cơ sở cũng đang là nơi còn nhiều yếu kém. Uy tín của một số cán bộ, đảng viên ở cơ sở trước nhân dân bị giảm sút, thiếu gương mẫu trước nhân dân. Đội ngũ cán bộ cơ sở đang còn nhiều mặt bất cập về năng lực và trình độ quản lý xã hội, quản lý kinh tế, quản lý hành chính. Đa số anh chị em có tinh thần hăng hái làm việc nhưng chưa được huấn luyện, đào tạo cơ bản, chu đáo, trong khi đó, cộng đồng dân cư ở cơ sở lại rất đa dạng, tình trạng vi phạm dân chủ cũng như việc chấp hành kỷ cương, pháp luật ở cơ sở chưa nghiêm làm ảnh hưởng tới việc tổ chức, động viên nhân dân thực hiện đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ở cơ sở được biểu hiện cụ thể ở hoạt động của cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể và cán bộ, đảng viên đối với nhân dân. Đã từ lâu, chúng ta nói tăng cường cho cơ sở, nhưng thực tế chưa làm được bao nhiêu trong khi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng ở cơ sở ngày càng nặng nề hơn. Vì vậy, chủ trương hướng mạnh về cơ sở và xây dựng cơ sở vững mạnh phải trở thành hành động thiết thực của tất cả các cấp, các ngành và tiếp tục xây dựng, củng cố, tăng cường và phát huy vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở, trước hết là ở xã, phường, thị trấn.

4.Hiện nay Đảng ta đang thực hiện mạnh mẽ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng phải dựa vào dân, thông qua phong trào cách mạng của nhân dân để tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh. Thông qua phong trào thi đua yêu nước, Đảng kiểm nghiệm, hoàn chỉnh và cụ thể hoá đường lối chính trị; Đảng lựa chọn được những người ưu tú để kết nạp vào hàng ngũ của Đảng; đồng thời, cũng để giáo dục, rèn luyện và nâng cao chất lượng hoạt động của cán bộ, đảng viên. Cần có kế hoạch thật tốt để nhân dân đóng góp ý kiến tham gia xây dựng Đảng, loại bỏ những phần tử thoái hoá biến chất ra khỏi Đảng. Gắn chặt công tác xây dựng Đảng với công tác dân vận, công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên. Thực hiện Dân chủ hoá trong sinh hoạt Đảng và tranh thủ ý kiến góp ý xây dựng của nhân dân trong công tác cán bộ, kiện toàn cấp uỷ, tổ chức cơ sở đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ở từng địa bàn, từng cơ sở, từng cộng đồng dân cư, trong các doanh nghiệp, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất…

5.Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng - một vấn đề mấu chốt để tăng cường và củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đấu tranh lâu dài của dân tộc ta là sức sống mãnh liệt của nhân dân ta, là sức sáng tạo và khả năng ứng xử với mọi tình huống khó khăn, thách thức, giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc và không ngừng phát triển về mọi mặt. Kế thừa và phát huy truyền thống đó, Đảng ta đã luôn luôn coi trọng củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Nhờ đó, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong điều kiện của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự bùng nổ của khoa học công nghệ, đặc biệt là thông tin, internet, mạng xã hội trên toàn cầu, đòi hỏi chúng ta phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nắm bắt thời cơ vận hội mới, vượt qua thách thức để xây dựng và phát triển đất nước giàu mạnh, cường thịnh.

Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh(19/5/1890 – 19/5/2020) và chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, chúng ta khắc ghi lời căn dặn của Người là : “Vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”[3]. Tiếp tục thực hiện đại đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, thành phần; mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống ở trong nước hay định cư ở nước ngoài. Khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải luôn luôn được củng cố và phát triển sâu rộng trên cơ sở xã hội liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân chính là nguồn gốc và sức mạnh của mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, làm cho đất nước ta phát triển nhanh, bền vững; nhân dân ta có cuộc sống ấm no, văn minh, hạnh phúc./.

 

        TS. Nguyễn Văn Hùng

                                                    Nguồn Hội đồng Lý luận Trung ương

                               


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

[2] Hồ Chí Minh: Sđd, t6, tr66.

[3] Hồ Chí Minh: Sđd, t5, tr 698

 

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Xem nhiều nhất

Liên kết website