Về một số nội dung đối ngoại trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Trên tinh thần nhằm làm rõ thêm những nhận thức mới về các vấn đề lớn có thể tác động đến việc xác lập những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực đối ngoại trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, bài viết đề cập đến ba nội dung về đối ngoại trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: đánh giá xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển; hội nhập quốc tế; nội dung về “nền ngoại giao hiện đại”.

Về đánh giá xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển

Đây là một nội dung rất quan trọng trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, liên quan đến nhận thức của chúng ta đối với tình hình, khả năng diễn biến, nhất là các thời cơ, thách thức, chiến lược quốc gia; là cơ sở để xác định các nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân. Trong các văn kiện đại hội Đảng gần đây, nội dung “hòa bình, hợp tác và phát triển” luôn được nhận định là một xu thế lớn. Trong những nhiệm kỳ trước, đây là nhận định hết sức đúng đắn, có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng để chúng ta tập trung cho phát triển kinh tế, xây dựng đất nước.

Đến nay, về tổng thể, có thể nói hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là nguyện vọng, mục tiêu và động lực phấn đấu lâu dài, xuyên suốt của đa số các nước và cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, thời gian qua và đặc biệt là trong những năm tới, nhiều rủi ro đang thách thức, thậm chí đe dọa các xu thế “hòa bình”, “hợp tác” và “phát triển”.

Cụ thể, tình hình thế giới, khu vực những năm qua biến động rất nhanh chóng,  phức tạp, khó đoán định, nổi bật là: cạnh tranh, cọ xát chiến lược giữa các nước lớn, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc, ngày càng quyết liệt hơn về tính chất, mức độ và mở rộng hơn về phạm vi, lĩnh vực, trong đó mặt cạnh tranh, đối đầu chiến lược ngày càng gia tăng, nổi trội hơn mặt hợp tác. Tranh chấp biên giới, chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo và các điểm nóng trên thế giới gia tăng phức tạp, tiềm ẩn các nguy cơ “xung đột nóng”. Ngân sách quốc phòng gia tăng, chạy đua vũ trang ngày càng quyết liệt và đang trở thành một xu thế phổ biến, đặc biệt là tăng cường hiện đại hóa quân đội, năng lực hải quân với những thế hệ vũ khí đời mới. Xu thế đơn phương, cường quyền, can thiệp, lật đổ... có chiều hướng gia tăng mạnh. Các nước gia tăng tính thực dụng trong quan hệ quốc tế, tăng cường tính tự chủ về quốc phòng, an ninh. Tập hợp lực lượng diễn biến đan xen, linh hoạt nhằm tối đa hóa lợi ích quốc gia - dân tộc. Trật tự quốc tế, luật pháp quốc tế và các thể chế quản trị toàn cầu bị thách thức nghiêm trọng, suy giảm vai trò, ảnh hưởng do bất đồng, khác biệt về lợi ích, quan điểm và sự đối đầu giữa các nước lớn. Tiến trình toàn cầu hóa đối mặt với nhiều thách thức, nhất là sự gia tăng của chủ nghĩa dân tộc, dân túy, cực hữu, xu thế bảo hộ, cạnh tranh nước lớn, cũng như những chỉ trích ngày càng gay gắt đối với mô hình toàn cầu hóa theo chủ nghĩa tự do mới. Dịch bệnh COVID-19 tác động sâu sắc, lâu dài đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội trên quy mô toàn cầu. Kinh tế thế giới lâm vào suy thoái và đứng trước nguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng, có thể nói là nặng nề nhất trong 100 năm qua. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, ngày càng trở thành địa bàn trọng điểm tranh chấp, can dự chiến lược và tập hợp lực lượng giữa các nước lớn. Vai trò trung tâm của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong cấu trúc khu vực gặp nhiều thách thức. Những xu thế, đặc điểm trên đã, đang và sẽ tác động sâu sắc đến trật tự kinh tế, an ninh, chính trị, pháp luật thế giới, gia tăng nguy cơ đe dọa hòa bình, ổn định và phát triển ở các khu vực và trên thế giới. Vì vậy, nếu trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng vẫn nêu là “hòa bình, hợp tác phát triển vẫn là xu thế lớn”, sẽ dẫn đến nhận thức không đầy đủ, kịp thời về thời cuộc, có thể tạo tâm lý chủ quan. Trên tinh thần đó, cần điều chỉnh nội dung theo hướng “xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển gặp nhiều trở ngại, thách thức”. Cách thể hiện này không phủ định hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là yêu cầu và nguyện vọng lớn của các nước và cộng đồng quốc tế; mặt khác, có ý nghĩa tạo nhận thức đầy đủ hơn và mang tính “cảnh báo” về những khó khăn, thách thức của môi trường bên ngoài đối với an ninh và phát triển của đất nước, từ đó tạo nhận thức và nỗ lực, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, tránh rơi vào thế bị động, bất ngờ.

Về hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế là một chủ trương chiến lược hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta; là một bước chuyển tư duy mang tính “đột phá chiến lược”, mang lại cho đất nước ta các điều kiện để phát triển và một vị thế chưa từng có, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ lợi ích tổng thể của quốc gia - dân tộc, củng cố cục diện chiến lược, giúp chúng ta có thêm công cụ, điều kiện để ứng phó với các thách thức về an ninh và phát triển.

Tư duy, nhận thức, quan điểm của Đảng ta về hội nhập quốc tế là một quá trình liên tục được bổ sung qua các kỳ Đại hội: từ mới mẻ đến làm quen, từ đơn lẻ đến nhiều lĩnh vực, từ thận trọng đến tự tin. Đặc biệt, Đại hội XII của Đảng đánh dấu bước phát triển nhận thức và lý luận về hội nhập quốc tế khi Đảng ta tiếp tục xác định: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”; lần đầu tiên khẳng định “hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và hệ thống chính trị”. Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng đề xuất nâng tầm hội nhập quốc tế lên mức cao hơn, với việc bổ sung nội dung “toàn diện, sâu rộng”.

Tuy nhiên, thế giới đã và đang chuyển động rất nhanh, khó lường đoán. Dịch bệnh COVID-19 dự báo sẽ mang lại một thế giới với nhiều thay đổi. Nhiều yếu tố khách quan và chủ quan vốn là cơ sở thực tiễn và là điều kiện để chúng ta triển khai hội nhập quốc tế đang có những sự vận động mới, chứa đựng nhiều khó khăn, thách thức hơn chúng ta tưởng, đòi hỏi phải xem xét sâu sắc, thận trọng chủ trương này.

Một là, môi trường hội nhập quốc tế của nước ta trong giai đoạn tới có nhiều thay đổi theo hướng bất lợi hơn nhiều so với giai đoạn 35 năm đổi mới vừa qua, đặt ra nhiều thách thức lớn phải cân nhắc thận trọng để đối phó hiệu quả, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc. Cụ thể:

Ở góc độ kinh tế, trong cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, cọ xát lợi ích kinh tế ngày càng gay gắt, chứa đựng nguy cơ “phân tách” về kinh tế, công nghệ giữa các nước lớn. Liên kết kinh tế ở quy mô đa phương và song phương đang chậm dần; trao đổi thương mại toàn cầu suy giảm; chủ nghĩa bảo hộ gia tăng ở nhiều nước; các thể chế kinh tế đa phương nhất là Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đứng trước rất nhiều thách thức, yêu cầu cải tổ, đổi mới ngày càng cấp thiết; mô hình toàn cầu hóa theo chủ nghĩa tự do mới và những bất cập của “thế giới phẳng” ngày càng bộc lộ khiếm khuyết. Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng gây nhiều lo ngại đến tính độc lập, tự chủ của các nền kinh tế, biểu hiện rõ nhất qua dịch bệnh COVID-19. Các chuỗi cung ứng và sản xuất toàn cầu đang có dấu hiệu dịch chuyển, cơ cấu lại. Kinh tế thế giới suy thoái mạnh và chứa đựng nguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng. Toàn cầu hóa vốn có xu hướng chậm lại trong những năm qua, đang đứng trước thách thức chuyển trạng thái mới.

Chính trị - an ninh thế giới cũng xuất hiện nhiều yếu tố hết sức phức tạp, khó lường. Đặc biệt là, cạnh tranh, đối đầu chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn về tính chất, mức độ và mở rộng hơn về phạm vi, lĩnh vực, đi cùng với đó là những lôi kéo, tập hợp lực lượng hết sức phức tạp ở cả quy mô song phương và đa phương; các nước, nhất là các nước vừa và nhỏ, ngày càng đối mặt với sức ép phải “chọn bên”. Các thể chế đa phương quản trị khu vực và toàn cầu suy giảm vai trò, ảnh hưởng do mâu thuẫn sâu sắc giữa các nước lớn, cũng như sự bất cập, hạn chế của bản thân các định chế này, đang thúc đẩy các nước lớn cải tổ, định hình lại và áp đặt các nguyên tắc, “luật chơi” mới tại các thể chế đa phương theo lợi ích của từng nước, đồng thời đẩy mạnh các sáng kiến liên kết phục vụ các mục tiêu, ý đồ chiến lược riêng của mình, có thể cuốn các nước nhỏ vào các “sân chơi” không phù hợp.

Hai là, quan sát, theo dõi điều chỉnh chính sách của các nước trong bối cảnh mới cho thấy, nhiều nước đã có những động thái điều chỉnh chính sách và hội nhập quốc tế theo hướng thận trọng hơn. Ít có nước nào thúc đẩy mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn về hội nhập quốc tế. Đơn cử như, Mỹ thực hiện chủ trương “Nước Mỹ trên hết”, xem xét lại nhiều thỏa thuận thương mại song phương và đa phương, hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp trở về đầu tư, sản xuất trong nước; Trung Quốc chú trọng chiến lược tuần hoàn kép về kinh tế, theo đó nỗ lực thúc đẩy tiêu dùng trong nước, tự cung tự cấp về công nghệ; Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc..., xem xét việc bảo hộ hoặc thắt chặt quy định với các ngành công nghiệp, kinh tế mang tính chiến lược đối với an ninh quốc gia; nhiều nước thận trọng hơn trong tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương (Ấn Độ rút khỏi Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực - RCEP...).

Ba là, sau 35 năm đổi mới, nước ta đã hội nhập quốc tế ở mức sâu rộng nhất từ trước đến nay. Chúng ta đã tham gia tích cực vào các thể chế kinh tế đa phương, khu vực; ký kết các FTA với nhiều nền kinh tế lớn (hiện ta tham gia 16 FTA với tổng số 54 nền kinh tế trên thế giới); thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn. Độ mở cao của nền kinh tế đặt ra những vấn đề bảo đảm tính tự chủ của nền kinh tế trong quá trình hội nhập và phát triển bền vững, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Hội nhập trên các lĩnh vực khác, nhất là hội nhập chính trị, an ninh thời gian qua cũng được thúc đẩy mạnh mẽ. Chúng ta đã thiết lập và nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 33 nước đối tác quan trọng; tham gia tích cực tại nhiều thể chế, diễn đàn khu vực và quốc tế. Có thể nói, hội nhập quốc tế của chúng ta đã qua giai đoạn “mở rộng” và cần bước vào giai đoạn “hiệu quả”.

Bốn là, quá trình đổi mới nói chung và hội nhập quốc tế nói riêng trong giai đoạn vừa qua đã để lại cho chúng ta bài học là phải nắm vững xu thế của thời đại, triển khai thận trọng, giành thắng lợi từng bước. Thực tế đã qua và thực tiễn hiện tại cho thấy, hội nhập quốc tế là chủ trương chiến lược đúng đắn, nhưng cần đặt trong bối cảnh mới với cục diện mới như đã nêu trên. Do đó, trong những năm tới ta chưa nhất thiết đẩy hội nhập quốc tế lên mức cao “toàn diện và sâu rộng” như trong Dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Lúc này có lẽ chưa phải là lúc ta cố đẩy nhanh, đẩy mạnh, đẩy toàn diện hội nhập quốc tế, mà ta nên tiếp tục giữ quan điểm “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế” như Đại hội XII của Đảng là phù hợp; đồng thời, cần tiến hành rà soát kỹ lưỡng các chiến lược, lĩnh vực hội nhập và các bước đi, lộ trình phù hợp với bối cảnh mới của tiến trình toàn cầu hóa, bảo đảm cao nhất các lợi ích quốc gia - dân tộc, nhất là về độc lập, tự chủ, quốc phòng, an ninh.

Về nội dung “nền ngoại giao hiện đại”

Xét trên cơ sở cần thiết cũng như nội hàm thực chất, có thể nói thời điểm này chưa thực sự phù hợp để nêu khái niệm “nền ngoại giao hiện đại”, bởi một số lý do:

Thứ nhất, đến nay chúng ta chưa có những điều chỉnh lớn về các nội dung cốt lõi của ngoại giao Việt Nam. Nền ngoại giao Việt Nam hiện nay cơ bản vẫn kế thừa các giá trị, nguyên tắc, phương châm của ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống đối ngoại của cha ông ta và với một số phát triển mới về tư duy, phù hợp với tình hình mới. Do đó, chưa có cơ sở để nêu một khái niệm mới có tính định hình tổng thể về bản sắc ngoại giao Việt Nam.

Thứ hai, khái niệm “nền ngoại giao hiện đại” không rõ nội hàm thực chất, và là một khái niệm mang tính chiết trung, không thể hiện được bản sắc của nền ngoại giao Việt Nam. Vì vậy, xin đề xuất, trường hợp cần thể hiện một nội dung mới, có thể cân nhắc khái niệm “nền ngoại giao toàn diện và chủ động”.

Toàn diện” hàm ý nhiều ý nghĩa quan trọng: 1- Nêu bật được đặc điểm của nền ngoại giao Việt Nam là dựa trên phát huy sức mạnh tổng hợp, toàn diện của ba trụ cột ngoại giao, gồm: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Việc phát huy sức mạnh tổng hợp, toàn diện giữa ba trụ cột trong mặt trận đối ngoại là một bài học kinh nghiệm quan trọng được đúc rút từ thực tiễn, là yếu tố quan trọng để tạo nên những thành tựu to lớn, nổi bật của đối ngoại nước nhà; đồng thời, phát huy sức mạnh của cả ba trụ cột cũng là đặc điểm riêng mang đậm bản sắc Việt Nam và hệ thống chính trị của đất nước. 2- “Toàn diện” là để khẳng định nhiệm vụ của ngoại giao là phục vụ toàn diện các nhiệm vụ về chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa... và phục vụ toàn diện các đối tượng.

Chủ động” hàm ý phát huy tính linh hoạt, chủ động, tích cực, thích nghi kịp thời, nhanh chóng với các nhiệm vụ, yêu cầu mới của đất nước, cũng như kịp thời thích ứng với những thay đổi trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, bảo đảm cao nhất các lợi ích của quốc gia - dân tộc./.

 

HOÀNG BÌNH QUÂN

Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương

Nguồn Tạp chí Cộng sản



Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Xem nhiều nhất

Liên kết website