< Trở về giao diện Mobile
Trang chủ / Trang sinh viên

Quan điểm về cách học “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh và ý nghĩa với sinh viên Học viện Chính trị Công an nhân dân

(Thứ năm, 21/06/2018 - 04:19)

Tự học là điều cần thiết trong quá trình tiếp nhận tri thức, là hoạt động có mục đích của con người. Tự học là cách tốt nhất để có thể tự làm chủ được tri thức, tự hoàn thiện tri thức và nhân cách của bản thân. Khi đã có niềm đam mê, ham học thì tự bản thân sẽ chủ động học hỏi không ngừng nghỉ. Từ đó hình thành được nhu cầu và khả năng tự học để học suốt đời.

 

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định tạo nên trí tuệ của Người. Về cách học phải “lấy tự học làm cốt” là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. Tại sao lại là “lấy tự học làm cốt”? Người chỉ rõ: “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào” (1), tức là thực hiện kết hợp 3 khâu: tự học của cá nhân phải làm nòng cốt, thảo luận của tập thể và hướng dẫn của giảng viên chỉ để bổ sung thêm vào. Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học làm cốt, làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân. Người là tấm gương cao đẹp về tinh thần tự học và học tập bền bỉ suốt đời để chúng ta noi theo. Tư tưởng tự học của Người thể hiện cụ thể trên mấy vấn đề sau:

 

Một là, trong tự học, điều quan trọng hàng đầu là xác định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn.

 

Mục đích của việc học là để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải chịu khó học tập, không ngừng nỗ lực để chiếm lĩnh tri thức. Ngày 21-7-1956, nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Người căn dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, đã biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” (2).

 

Nói về mục đích của học tập Người nhấn mạnh: “Học để tiến bộ mãi, càng tiến bộ càng thấy cần phải học”. Người tự học với một động cơ trong sáng với ý nguyện cao cả là tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, làm cho đất nước độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc.

 

Hai là, tự học qua tổng kết, đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn, học trong công việc.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở mọi người học lý luận đồng thời học trong thực tiễn. Người giải thích: Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng, rõ ràng, làm thành kết luận, rồi đem nó chứng minh với thực tế. Vì thế, Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người phải vừa học, vừa làm, học để áp dụng vào thực tiễn công tác. Trong lúc học lý thuyết phải nghiên cứu công việc thực tế. Người nhấn mạnh, thời kỳ học ở nhà trường chưa thể cung cấp những kiến thức đầy đủ và sâu rộng; nó mới chỉ giúp ta được những điều căn bản, định rõ cho ta một phương hướng đi cho khỏi lầm đường và gợi cho ta lòng ham muốn nghiên cứu. Còn sau khi ra trường làm việc, phải nghiên cứu không những trong sách vở, mà còn phải nghiên cứu ngay trong thực tiễn công tác của mình, phải vừa làm, vừa học. Người dạy không chỉ có ở nhà trường, có lên lớp mới học tập, trong mọi hoạt động cách mạng, chúng ta đều phải học tập; “phải học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học hỏi ở nhân dân”. Quá trình lao động, làm việc là quá trình tự học tập, tích lũy, bổ sung kinh nghiệm và đúc rút kiến thức từ thực tiễn. Người nhấn mạnh, phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm.

 

Ba là, khi tự học phải đọc sâu hiểu kỹ từng vấn đề

 

Người khuyên, trong học tập phải “đào sâu suy nghĩ”, phải “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ, suy nghĩ chín chắn, kĩ càng, mạnh dạn đề xuất vấn đề và thảo luận cho thông suốt, vỡ lẽ”. Người còn căn dặn: thường xuyên phải đặt câu hỏi “vì sao” đối với bất kỳ vấn đề gì, phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không. Có thể thấy rõ điều này qua phương pháp đọc sách, báo của Hồ Chí Minh: đọc cho rộng, có ghi chép, phân loại các thông tin. Hằng ngày, Người đều theo dõi báo chí, đánh dấu vào những chỗ đọc thấy cần thiết; tiếp theo khi đọc luôn phải suy nghĩ kỹ càng; cuối cùng và cũng là bài học quan trọng nhất là áp dụng những điều đã đọc vào thực tế công việc và cuộc sống. Với những vấn đề quan trọng, có những từ hoặc vấn đề không hiểu, điều tra kỹ lưỡng cho đến khi hiểu cặn kẽ mới thôi.

 

Trong tư duy giáo dục của Người, ta thấy Người luôn căn dặn người học không được một chiều, cứ sách nói là đúng, phải có óc phản biện “không được tin một cách mù quáng từng câu một trong sách”, nghĩa là phải biết động não, biết tìm ra điều phải trái, đúng sai; không nên biến mình thành nô lệ tuân thủ sách vở một cách quá mức.

 

Bốn là, học đến đâu ra sức luyện tập thực hành đến đó.

 

Theo Người, học phải gắn với hành, học mà không hành, không áp dụng vào thực tế khác nào chiếc hòm đựng đầy sách, hành mà không học thì hành không trôi chảy: “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau” (3). Muốn giỏi đòi hỏi phải gắn học với hành, học để vận dụng sáng tạo vào trong thực tế công tác, trong cuộc sống, học để ứng xử với bản thân, với mọi người, với thực tế cuộc sống, để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Vì thế, Người luôn nhắc nhở rằng, làm nghề gì cũng phải học và phải ham học, học trong công việc hằng ngày, trong việc lớn cũng như việc nhỏ, việc cao cũng như việc thấp. Học cốt để làm, học mà không làm, học mấy cũng không tác dụng, học mấy cũng vô ích; học cốt để áp dụng vào công việc thực tế, lý thuyết mà không áp dụng vào thực tế là lý thuyết suông; chỉ học thuộc lòng lý thuyết để đem lòe thiên hạ thì lý thuyết ấy cũng vô ích.

 

Thấm nhuần và quán triệt sâu sắc quan điểm “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh, trước hết mỗi một sinh viên Học viện Chính trị CAND cần có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của tự học, tạo lập hứng thú, phát triển động cơ. Có động cơ học tập tốt khiến cho người học luôn tự giác, say mê học tập với những mục tiêu cụ thể, từ đó biến hoạt động tự học trở thành quá trình tự nguyện, tự giác của mỗi sinh viên. Đây là điều quan trọng nhất, quyết định đến hiệu quả hoạt động tự học. Sự tài giỏi và nhiệt huyết đổi mới phương pháp dạy học của thầy cô có tuyệt vời đến đâu cũng không thể thay thế việc mong muốn và ý thức làm chủ tri thức và ý thức tự giác tự trau dồi, tự hoàn thiện của người học.

 

Thứ hai, mỗi sinh viên phải xây dựng cho mình một kế hoạch học tập thật rõ ràng, cụ thể (gồm kế hoạch toàn khóa, kế hoạch học kì, kế hoạch môn học). Bên cạnh đó, kế hoạch cũng cần bảo đảm tính linh hoạt để thích ứng với điều kiện, hoàn cảnh khi có phát sinh. Một nguyên tắc quan trọng nhất trong việc hình thành năng lực tự học là người học phải thực sự kiên trì, biết cách kiểm soát thời gian sao cho phù hợp và tạo được hứng thú, sự tập trung cao nhất trong quá trình học. Vì thế, khi đã xây dựng được một kế hoạch học tập, đòi hỏi sinh viên phải có một quyết tâm cao để thực hiện kế hoạch đề ra.

 

Thứ ba, chủ động khai thác và tìm đọc các nguồn tư liệu khác ngoài giáo trình. Sinh viên phải có phương pháp đọc sách khoa học. Ghi chép những điều đã đọc được theo từng đầu sách hoặc theo từng chủ đề nghiên cứu, biết đặt các câu hỏi với những vấn đề còn chưa rõ để tiếp tục tìm câu trả lời ở các tài liệu khác, từ các chuyên gia, các thầy cô, bạn bè…

 

Thứ tư, cố gắng thường xuyên thực hành vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, góp phần giải quyết những vấn đề cuộc sống đặt ra, cùng với sự hỗ trợ của thầy cô, bạn bè. Tích cực tranh luận, phản biện trong thực hành vận dụng để cùng tìm ra chân lý, từ đó củng cố và khắc sâu tri thức.

 

Tấm gương tự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, soi vào thực tiễn đã qua, soi vào hiện nay và cả mai sau, vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa giáo dục hết sức sâu sắc; đó mãi là một tấm gương sáng ngời, một di sản vô giá đối với sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục của Đảng và nhân dân ta.

 

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 5, tr 273.

(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 8, tr 215.

(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 11, tr 331.

 

 

Nguyễn Thị Phương Thuỷ

Khoa Triết học & CNXHKH

Xem tin theo ngày: