< Trở về giao diện Mobile
Trang chủ / Nghiên cứu - trao đổi / Chống diễn biến hoà bình

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời rồi chăng

(Thứ năm, 25/05/2017 - 19:35)

Nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam hiện nay vẫn là học thuyết của Mác và tư tưởng của hai người học trò xuất sắc của ông là V.I.Lênin và Hồ Chí Minh, như thế có phải là giáo điều, bảo thủ, xơ cứng không?

 

Về câu hỏi thứ nhất, chính R.Nixon và nhiều học giả tư sản cũng đã trả lời. Sau khi Liên Xô tan rã, Đảng Cộng sản Liên Xô bị cấm hoạt động, thì không ít người trong số các chính khách phương Tây đã hí hửng tuyên bố: Thất bại của chủ nghĩa cộng sản, thắng lợi của nền “dân chủ tự do” và sự chấm dứt của Chiến tranh lạnh đã chôn vùi tư tưởng cho rằng lịch sử là sự đối đầu bằng các hệ tư tưởng đối lập. Họ lớn tiếng rằng nền kinh tế thị trường và Chính phủ đại diện bây giờ đã được cả thế giới chấp nhận... R.Nixon đã cho những quan điểm dễ dãi nói trên về sự kết thúc của lịch sử là viển vông. Trong cuốn “Chớp lấy thời cơ”, ông ta viết: “... những người cộng sản vẫn hãy còn đó, họ sẽ có tác động, bằng việc sử dụng sức mạnh để giành giật và giữ lại chính quyền. Hơn thế nữa, sự giảm đi của cuộc Chiến tranh lạnh không có nghĩa là kết thúc của xung đột quốc tế... chủ nghĩa Mác hãy còn sống ở trong nhiều trường đại học của Mỹ...”.

 

Còn H.Ph.Mây-ơ-xơ (Ban Biên tập Báo The Asian Wall Street journal) thì viết: “Tại một số nước chính quyền cộng sản đổ vỡ, các nhà chính trị theo chủ nghĩa xã hội chọn kinh tế thị trường. Tuy nhiên, Các Mác vẫn ảnh hưởng đến những quan điểm lịch sử hiện đại và kinh tế học. Trong số những nhà tư tưởng vĩ đại, Mác, Phrơt, Anhxtanh là những người định hướng hiện nay cho thế kỷ chúng ta vào thập kỷ cuối cùng. Tất cả ba người đều sinh vào những năm 1800, tư tưởng của họ đã thức tỉnh và đi sâu vào ý thức của nhân dân các nước. Thực sự đó là những tư tưởng mới phá ngầm nền tảng của những giáo lý đương thời và tạo lập cho chúng ta những ý nghĩ mới...

 

Những sự kiện tại Đông Âu, Liên Xô hình như làm lu mờ sự nghiệp của C.Mác, nhưng nhiều người khác vẫn đang tìm hiểu những điều thông tuệ trong các tác phẩm của ông... Những tư tưởng đề ra trong các công trình của Mác đang vươn lên trong các cuộc tranh cãi về kinh tế và xã hội ở các nước tư bản như Mỹ, Ca-na-đa và các quốc gia Tây Âu. Tất nhiên, các nhà lý luận chính trị và xã hội không trích dẫn Mác, nhưng thực tế họ đã thừa nhận những điều tiên đoán của ông.

 

Lý thuyết về hình thái kinh tế - xã hội của Mác là độc đáo bởi ông đã giải thích lịch sử dựa trên các quan hệ kinh tế: phương thức sản xuất trong cuộc sống vật chất quyết định tính chất chung của quá trình phát triển đời sống xã hội, chính trị và tinh thần. Thật khó tìm thấy một phát biểu nào trước Mác như tư tưởng của ông về những kỹ thuật sản xuất và mối quan hệ tương tác giữa những sự kiện xảy ra trên toàn xã hội.”

 

Còn Đa-ni-en T.Rốt-giơ-xơ, giáo sư lịch sử trí tuệ Trường Đại học Prin-xtao thì nhận định rằng: Mác là một trong “số rất ít những nhà tư tưởng trong lịch sử có nhiều ảnh hưởng”.

 

Hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ khi “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời, nhiều Đảng Cộng sản được thành lập và trưởng thành nhờ tư tưởng, lý luận của Mác soi sáng. Phong trào vô sản kết hợp với học thuyết Mác tất yếu đã xuất hiện các chính đảng cộng sản ở nhiều nơi trên thế giới.

 

Thực tiễn thắng lợi và cả những sai lầm thất bại trong lịch sử phát triển của phong trào cộng sản thế giới đều chứng tỏ rằng C.Mác đã đặt nền móng vững chắc cho việc xây dựng một học thuyết về Đảng Cộng sản; và những tư tưởng triết học và chính trị của ông vẫn là kim chỉ nam, là ánh sáng soi rọi vào “những điều ngu xuẩn đã mắc phải”. V.I.Lênin viết: “Về mặt lý luận: trong thời kỳ cách mạng cũng như trong bất cứ lúc nào, người ta đều mắc những điều ngu xuẩn - Ăngghen đã nói như thế và đã nói đúng. Cần cố gắng làm sao để mắc thật ít những điều ngu xuẩn và sửa chữa hết sức nhanh chóng những điều ngu xuẩn đã mắc phải, bằng cách nhận định hết sức tỉnh táo xem những vấn đề nào và vào lúc nào thì có thể hay không có thể giải quyết bằng phương pháp cách mạng” cả trong lý luận lẫn trong các cuộc đấu tranh cách mạng của tất cả những người cộng sản để họ mau chóng nhận ra và tích cực sửa chữa “những điều ngu xuẩn đó” mà tiếp tục tiến lên.

 

Thời đại chúng ta đã và đang sống có biết bao biến đổi lớn lao mang tính chất bi tráng mà trong đó những người cộng sản có vai trò to lớn và trách nhiệm không nhỏ trước lịch sử. Sẽ cần phải phê phán tất cả những lầm lạc đã mắc phải để tiến lên. Nhưng chúng ta cần phải tìm cho mình điểm xuất phát đúng để tiến hành sự phê phán. Chính từ trong di sản tư tưởng của C.Mác và qua kinh nghiệm thực tiễn mà những người cộng sản nhận ra: những tiền đề xuất phát của mình “không phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều, đó là những tiền đề hiện thực”. Ai cũng biết rằng C.Mác đã chứng minh bằng toàn bộ tác phẩm khoa học của mình một chân lý không thể bác bỏ là: cần phải phản ánh cho được bản chất của các sự vật, hiện tượng trong quá trình sinh thành, vận động và phát triển của nó, và đứng trên quan điểm duy vật biện chứng để xem hiện tại nó là gì, qua đó dự báo được khuynh hướng của sự phát triển. Toàn bộ những kết luận rút ra đều phải được kiểm nghiệm bằng thực tiễn. Chỉ có thực tiễn mới có quyền cao nhất để thẩm định chân lý. Đối với chủ nghĩa cộng sản, C.Mác không bao giờ sùng bái nó như là những nguyên tắc, những “tư tưởng vĩ đại”, những học thuyết vĩnh viễn bắt hiện thực phải tuân theo. Ông tuyên bố: “Chủ nghĩa cộng sản không phải là một học thuyết mà là một phong trào. Nó xuất phát không phải từ những nguyên tắc mà từ những sự thực. Những người cộng sản không lấy thứ triết học này nọ, mà lấy toàn bộ quá trình lịch sử trước đây và đặc biệt là những kết quả thực tế của quá trình trước mắt tại các nước văn minh làm tiền đề của họ...

 

Chủ nghĩa cộng sản ở mức độ nó là lý luận, là sự biểu hiện lý luận của lập trường của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh đó và sự khái quát lý luận của những điều kiện giải phóng của giai cấp vô sản”.

 

Như vậy là để tiến lên, những người cộng sản không thể nào chỉ cần căn cứ vào những lý luận đã có mà cần phải từ “sự thực” để phê phán phong trào cộng sản ở giai đoạn đã qua và hiện nay để tìm cho mình những bài học kinh nghiệm. Sự phê phán mà nó tiến hành luôn luôn xuất phát từ “miếng đất hiện thực của lịch sử” là rất cần thiết. Song chính Mác cũng lại chỉ dẫn “không phải sự phê phán, mà cách mạng mới là động lực của lịch sử”, Mác luôn luôn lưu ý rằng: “Để có ý thức chủ nghĩa cộng sản đó nảy sinh ra được trong đông đảo quần chúng, cũng như để đạt được chính ngay mục đích ấy thì cần phải có một sự biến đổi của đông đảo quần chúng, song sự biến đổi này chỉ có thể tiến hành được bằng một phong trào thực tiễn, bằng cách mạng”. Mà trong phong trào thực tiễn, trong cách mạng thì Mác bao giờ cũng là người lạc quan tin tưởng, ông luôn luôn nhìn thấy sự thắng lợi của tương lai bởi ông tin vào những thế hệ quần chúng cách mạng kế tiếp nhau, thế hệ sau biết đứng lên vai thế hệ trước mà tiến lên, bởi ông luôn luôn “tin tưởng vào sự phát triển trí tuệ của giai cấp công nhân, sự phát triển mà hành động chung và tranh luận chung nhất định sẽ mang lại”.

 

Hồ Chí Minh là người mác-xít - lê-nin-nít đầu tiên ở Việt Nam. Nhờ có ánh sáng của lý luận khoa học Mác - Lênin mà Đảng Cộng sản Việt Nam - sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam - được thành lập. Sự ra đời của Đảng đã khắc phục được sự bế tắc về đường lối cách mạng ở nước ta đầu thế kỷ XX, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta làm cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Từ tư tưởng “Trước hết phải trở thành dân tộc (trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”) của C.Mác đến “Luận cương về vấn đề dân tộc” của V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đã cùng nhân dân Việt Nam thề: “Dẫu có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc”.

 

“Phải giành lấy chính quyền”. “Chính quyền đó phải trao cho số đông nhân dân”. Với tinh thần cách mạng đó của C.Mác, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên trì tiến hành những cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ để giành chính quyền, đã thiết lập nhà nước dân chủ đầu tiên ở Việt Nam, một nhà nước không ngừng phấn đấu để nó thực sự là của dân, do dân và vì dân.

 

C.Mác chỉ rõ: Phong trào cộng sản đòi hỏi phải có một đảng cộng sản bao gồm những người tiên tiến, những chiến sĩ tiên phong làm nhiệm vụ dẫn dắt và thúc đẩy phong trào. Sự thành bại của cách mạng, trước hết phụ thuộc vào trình độ phát triển về lý luận, tư tưởng và tổ chức của Đảng.

 

Học thuyết về đảng kiểu mới của V.I.Lênin đã chỉ rõ sự ra đời của một chính đảng vô sản là bởi có sự “kết hợp giữa chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân”. Đảng phải có lý luận tiên phong mới làm tròn được nhiệm vụ của đảng tiên phong. Đảng đó phải có tổ chức chặt chẽ được xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng đó phải tự biết đấu tranh để chống 3 kẻ thù: sự dốt nát, tính kiêu ngạo cộng sản và bệnh quan liêu tham nhũng, ăn hối lộ. Đảng đó phải có dũng khí nhận ra những sai lầm của mình, nhất là sai lầm về đường lối, phải làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Chính sách kinh tế mới (NEP) và các quyết định về thanh đảng được đề ra trong mấy năm cuối đời của V.I.Lênin là sự bổ sung hoàn chỉnh học thuyết về đảng kiểu mới của chính Người. Và đó cũng chính là một bước tiến trong sự phát triển học thuyết về Đảng Cộng sản của C.Mác. Một thời gian dài, khi nghiên cứu về học thuyết đảng kiểu mới của V.I.Lênin, chúng ta đã không đề cập một cách đầy đủ tới NEP - một quyết sách chiến lược trong việc xây dựng đảng về mặt chính trị trong tình hình mới, và thanh Đảng - một quyết sách chiến lược trong xây dựng đảng về mặt tổ chức, khi cách mạng đã chuyển sang giai đoạn xây dựng đất nước, khi Đảng đã trở thành đảng cầm quyền...

 

C.Mác đã từng nói, người ta bao giờ cũng phải trả giá cho sự dốt nát của mình. “Học phí” trả cho việc nhận ra sai lầm và khuyết điểm của Đảng cầm quyền là quá lớn, có khi bằng chính sự nghiệp, cơ đồ của cả một chế độ xã hội do “núi xương, sông máu” của nhân dân xây đắp nên.

 

Nhưng một đảng sở dĩ vĩ đại cũng chính là ở nơi nó biết nhận ra sai lầm và quyết tâm sửa chữa những sai lầm khuyết điểm đã mắc phải.

 

Đất nước ta sau ngày thống nhất (1975), qua hơn 10 năm trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đến năm 1986 đã rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội và cả những nhân tố về chính trị không thể xem thường. Đại hội lần thứ VI của Đảng đã nghiêm khắc chỉ rõ: Đó là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện. Nguyên nhân là do Đảng Cộng sản đã không ngang tầm. Trong lĩnh vực tư tưởng, đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các quy luật đang hoạt động trong thời kỳ quá độ, đã mắc bệnh duy ý chí, chủ quan, nóng vội... Trong tổ chức, khuyết điểm lớn nhất là sự trì trệ, chậm đổi mới công tác cán bộ; bố trí và đãi ngộ cán bộ không đúng đã vừa tạo ra trở lực cho việc hoàn thành các nhiệm vụ, vừa làm hư hỏng cả một lớp cán bộ mà di hại của nó cho tới nay vẫn chưa có thể nhanh chóng khắc phục. Bệnh quan liêu, tham nhũng và ăn hối lộ hoành hành, lây lan làm suy yếu cơ thể Đảng và chế độ.

 

Mặc dầu đã có những chuyển biến đáng khích lệ qua hơn 30 năm đổi mới, nhưng cho tới nay Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đang đứng trước những thử thách gay gắt. Trước hết là ở ngay chính bản thân Đảng. Nghị quyết về đổi mới và chỉnh đốn Đảng đã được ban hành nhiều lần nhưng vẫn còn tình trạng thực hiện không nghiêm. Đảng đã kiên quyết đưa ra khỏi Đảng nhiều người không còn đủ tiêu chuẩn đảng viên. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận không nhỏ hư hỏng, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức; sức chiến đấu của Đảng, vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên vẫn là vấn đề cần báo động. Nhóm lợi ích hoành hành, nạn tham nhũng, hối lộ và buôn lậu vẫn rất trầm trọng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cấp cao. Tình trạng “nhạt đảng”, phai nhạt khá phổ biến...

 

Vấn đề nâng cao năng lực, trí tuệ và sức chiến đấu của Đảng, một phần rất lớn phụ thuộc vào đường lối, chính sách cán bộ, là dân chủ, công minh và công tâm trọng dụng nhân tài, là chính sách giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và đãi ngộ thích đáng sẽ tạo ra một bước chuyển biến tích cực trong công tác đổi mới, xây dựng Đảng.

 

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh là những người lạc quan, đầy lòng tin tưởng vào tương lai tất thắng của chủ nghĩa cộng sản. Bởi vì các ông đều nhìn thấy xu thế tất yếu của lịch sử và khả năng, lực lượng để hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người là thuộc về lực lượng trẻ, là ở những lớp người bảo vệ và phát triển sự nghiệp cách mạng của cha ông, biết kế tiếp và “đứng lên vai thế hệ trước mà tiến lên” thực hiện mục tiêu vì độc lập, tự do, dân chủ, nước giàu, dân mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Trách nhiệm của Đảng ta hiện nay là phải một mặt tự chỉ trích, tự đổi mới, đồng thời phải biết cách đúng đắn để vun trồng, xây dựng thế hệ tiếp nối.

Như vậy là “trước hết phải chỉnh đốn lại Đảng”, đồng thời phải chăm lo “đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau” (Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh) là hai vấn đề liên quan đến sự tồn vong và phát triển của Đảng Cộng sản và của dân tộc Việt Nam ta.

 

Đó chính là cách tốt nhất để khẳng định bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

 

 

PGS Trần Đình Huỳnh

Nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

 

Xem tin theo ngày: