Lý luận chính trị
Thứ Tư, 25/2/2026 13:41'(GMT+7)

Xây dựng “Thế trận văn hóa” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam

Ngày 07/01/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Sự ra đời của Nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu một bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp phát triển bền vững đất nước. Nghị quyết khẳng định “Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hoá phải được gắn kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới”[1]. Trên quan điểm chỉ đạo đó, Nghị quyết đề ra 8 nhiệm vụ, giải pháp lớn vừa đề cao bản sắc dân tộc vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược, lâu dài, vừa đặt phát triển văn hoá trong bối cảnh chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng vừa chú trọng nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đặc biệt, lần đầu tiên, thuật ngữ “Thế trận văn hóa” được nhấn mạnh trên các phương diện: Xây dựng thế trận văn hoá gắn với quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Chấn chỉnh, hạn chế, đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực, suy thoái về đạo đức, lối sống, các biểu hiện thực dụng, “lợi ích nhóm” trong hoạt động văn hoá. Kiên quyết xử lý thông tin xấu độc, phản văn hoá, tin giả trên mạng xã hội và phương tiện thông tin khác. Phát huy vai trò nền tảng của văn hoá trong việc hình thành bản lĩnh, “sức đề kháng” trước các tác động phức tạp và lệch chuẩn của văn hoá ngoại lai; giữ gìn thuần phong mỹ tục, vun đắp niềm tự hào và khát vọng cống hiến vì sự phát triển của đất nước”[2].

          Trong phạm vi bài viết, chúng tôi tập trung bàn về: “thế trận văn hóa” và xây dựng “thế trận văn hóa” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam.

          1. Luận về “Thế trận văn hóa”

          Thuật ngữ “thế trận văn hóa” được phát triển từ khái niệm “Mặt trận văn hóa”. Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 xác định “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) mà người cộng sản phải hoạt động”[3]. Điều này có nghĩa rằng, văn hóa không đơn thuần là lĩnh vực giải trí hay nghệ thuật. Văn hóa là một không gian đấu tranh quyết liệt về tư tưởng, nhận thức và chính trị, là nơi cuộc chiến giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa nền văn hóa dân tộc và văn hóa nô dịch diễn ra gay gắt. Nhận thức được vị thế của văn hóa, Đảng, Nhà nước luôn coi văn hóa là một “mặt trận” quan trọng ngang tầm với mặt trận chính trị, quân sự và kinh tế. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”[4]. Mặt trận văn hóa, trong quan điểm của Đảng, tư tưởng của Bác, có sứ mạng “soi đường”, thức tỉnh tinh thần dân tộc, giáo dục người dân về lý tưởng cách mạng và lòng yêu nước, đồng thời, chống lại sự xâm lăng văn hóa, nhằm bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc.

          Từ khái niệm “mặt trận văn hóa” kết hợp với tư duy về “thế trận lòng dân”, thuật ngữ “thế trận văn hóa” được định hình như một khái niệm chiến lược trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Để tìm hiểu nội hàm khái niệm này, chúng tôi bắt đầu từ thành tố “thế trận”.

          Theo Từ điển Tiếng Việt online: “Thế trận là tổ chức và bố trí lực lượng để tiến hành chiến tranh và hành động tác chiến. Thế trận phải phù hợp với ý định tác chiến dựa theo mưu kế tác chiến, bảo đảm sử dụng có hiệu quả mọi lực lượng, tạo điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ đã đề ra, mà tổn thất ít nhất. Thế trận càng hiểm với mưu kế càng hay thì sức mạnh của lực lượng càng lớn, thắng lợi càng nhanh. Thế trận trong phạm vi chiến đấu là đội hình chiến đấu, trong phạm vi chiến dịch là bố trí chiến dịch, trong phạm vi của cả cuộc chiến tranh là bố trí chiến lược. Tóm lại, thế trận là dựa vào tình thế địch ta, địa hình mà bày binh bố trận”[5].

          Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học quan niệm, thế trận là một danh từ chỉ “Cách bố trí các lực lượng tác chiến trong một trận đánh”[6].

          Như vậy, theo cách hiểu chung nhất, thế trận là một thuật ngữ thường dùng trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, chỉ cách bố trí lực lượng và tiềm lực quốc phòng theo những mô hình, quy tắc nhất định trong một trận đánh. Nói cách khác, thế trận là một khái niệm chiến lược, dùng để chỉ sự sắp xếp, tổ chức và bố trí các lực lượng, nguồn lực một cách có hệ thống nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để đạt được mục tiêu nhất định. Từ khái niệm này, “thế trận” được mở rộng sang các lĩnh vực khác như: (1). Lĩnh vực chính trị và xã hội, thế trận là sự liên kết giữa các tổ chức, các tầng lớp nhân dân và các giá trị tinh thần để tạo ra một “màng lọc” hoặc “lá chắn”; (2). Lĩnh vực kinh tế và kinh doanh, thế trận là sự phân bổ nguồn lực, vốn, nhân sự và hệ thống phân phối của một doanh nghiệp trên thị trường nhằm chiếm lĩnh thị phần hoặc đối đầu với đối thủ cạnh tranh; (3). Lĩnh vực thể thao, thế trận là cách sắp xếp, bố trí vị trí và phân bổ lực lượng (con người, kỹ thuật) của một đội/vận động viên trên sân nhằm phát huy tối đa sức mạnh, tạo lợi thế tấn công hoặc phòng ngự trước đối thủ. Nó thể hiện ý đồ chiến thuật, sự chủ động và khả năng kiểm soát trận đấu trong từng thời điểm.        

          Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, “thế trận văn hóa” là thành tố cốt lõi của “thế trận bảo vệ Tổ quốc”. Với vị thế là “hồn cốt” dân tộc, là sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước, là hệ điều tiết xã hội. “Thế trận văn hóa” có liên hệ chặt chẽ với “thế trận lòng dân”. Không chỉ củng cố “thế trận lòng dân”, “thế trận văn hóa” còn gia tăng nền tảng sức mạnh, nội lực chống lại các âm mưu xâm lăng văn hóa, kiến tạo một hệ thống bảo vệ vững chắc nền tảng tinh thần của xã hội. Trong kỷ nguyên phát triển mới, việc xây dựng “thế trận văn hóa” để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ cấp bách mà còn là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài.

          Tóm lại, “thế trận văn hóa” là cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lối sống và các giá trị tinh thần thông qua việc bảo vệ, phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới, liên kết sức mạnh toàn dân nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng, bản sắc văn hóa dân tộc,  xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

          2. Giải pháp xây dựng thế trận văn hóa bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới

          Thứ nhất, xây dựng “Lá chắn thép” trên không gian mạng, “màng lọc” kỹ thuật và pháp lý để kiểm soát dòng chảy thông tin. Đây không chỉ là các giải pháp kỹ thuật bảo mật, mà là một hệ thống phòng thủ chủ động, đa tầng nhằm bảo vệ tuyệt đối nền tảng tư tưởng của Đảng và an ninh văn hóa quốc gia. “Lá chắn thép” được xây dựng qua nhiều lớp.

          Lớp đầu tiên là lá chắn công nghệ và kỹ thuật. Hạ tầng vững chắc với hệ thống trí tuệ nhân tạo thế hệ mới tự động quét, phát hiện và bóc gỡ các thông tin xấu độc, xuyên tạc ngay khi chúng vừa xuất hiện trên các nền tảng mạng xã hội sẽ là lớp phòng thủ đầu tiên. Song song với đó, cần “kích hoạt” ý thức, trách nhiệm, khát vọng làm chủ công nghệ số. Đẩy mạnh phát triển các nền tảng số “Make in Viet Nam” và hạ tầng dữ liệu dùng chung để giảm thiểu rủi ro bị can thiệp hoặc tấn công từ các thế lực nước ngoài.

          Lớp thứ hai lá chắn pháp lý và quy định. Một hành lang pháp lý chặt chẽ đủ sức răn đe và xử lý nghiêm những vi phạm là hoạt động cần thiết, bảo đảm cho thế trận văn hóa phát triển. Yêu cầu, thực thi nghiêm Luật An ninh mạng; Quy tắc ứng xử trên không gian mạng. Đặc biệt, chú trọng hợp tác với các nền tảng xuyên biên giới. Yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ (Google, Facebook, TikTok...) phải tuân thủ “màng lọc” pháp lý của Việt Nam, gỡ bỏ nội dung vi phạm chủ quyền và tư tưởng trên không gian mạng.

          Lớp thứ ba, lớp bảo vệ bên trong, được hình dung như lá chắn tư tưởng và lòng dân. Lớp này được ví như “màng lọc” tri thức và bản lĩnh, hệ miễn dịch nội sinh, cũng là lớp bảo vệ quan trọng nhất, biến mỗi người dân thành một “mắt xích” của lá chắn. Để thực hiện, cần nâng cao “sức đề kháng” văn hóa, tư tưởng. Trang bị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân kỹ năng phân tích, phê phán để tự nhận diện đúng - sai, tốt - xấu giữa “ma trận” thông tin, tự nhận diện và phản bác các luận điệu sai trái. Thực thi chiến lược “Lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Phổ biến, tuyên truyền, lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới theo tinh thần Đại hội XIV, làm thước đo để người dân tự sàng lọc hành vi và nội dung tiếp nhận. Tăng cường các nội dung tích cực, lan tỏa giá trị văn hóa tốt đẹp để chiếm lĩnh không gian mạng, khiến các thông tin độc hại không còn cơ hội tồn tại, phát triển.

          Lớp thứ tư, lá chắn lực lượng chuyên trách. Được ví như mũi nhọn tác chiến, các lực lượng chuyên trách như Ban Chỉ đạo 35 các cấp có trách nhiệm tăng cường tính hiệp đồng tác chiến giữa lực lượng quân đội, công an và ngành thông tin truyền thông trong việc xử lý các tình huống khủng hoảng truyền thông. Xây dựng, đào tạo đội ngũ chuyên gia công nghệ và chuyên gia lý luận có khả năng đấu tranh trực diện, sắc bén trên các diễn đàn quốc tế và môi trường số toàn cầu.

          Lớp thứ năm, lá chắn trong Kỷ nguyên mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, gồm các lớp: Bảo vệ chủ quyền dữ liệu cá nhân, coi an toàn thông tin của người dân là một phần của an ninh quốc gia; xây dựng niềm tự hào dân tộc trên môi trường số để chống lại sự “đồng hóa số” từ các nền văn hóa ngoại lai.

          Như vậy, xây dựng “lá chắn thép” trên không gian mạng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh kỹ thuật - kỷ cương pháp luật - bản lĩnh chính trị. Đây là yếu tố sống còn để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên phát triển của dân tộc.

          Thứ hai, thực thi chiến lược “Phủ xanh” thông tin.

                Chiến lược “Phủ xanh” thông tin là một phương thức quan trọng trong công tác tư tưởng và văn hóa hiện nay, đặc biệt trên không gian mạng. Chiến lược này vận dụng phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực” để bảo vệ nền tảng tư tưởng và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Về bản chất, chiến lược “phủ xanh” thông tin là cuộc chiến chủ động tạo dựng và lan tỏa các dòng thông tin đúng đắn, chính thống và nhân văn. Với vai trò như một lá chắn tư tưởng, chiến lược này tạo sức đề kháng mạnh mẽ, gia tăng nguồn lực nội sinh nhằm lấn át, vô hiệu hóa các luận điệu sai trái, thù địch và tin giả. Mục tiêu chiến lược hướng đến là làm cho thông tin tốt đẹp trở thành dòng chảy chính trên không gian mạng, từ đó củng cố niềm tin và “hệ miễn dịch tư tưởng” của nhân dân. 

          Chiến lược “phủ xanh” thông tin có ý nghĩa rất quan trọng đối với “thế trận văn hóa”, giúp: (1). Giữ vững trận địa tư tưởng, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trước sự xâm lăng của các trào lưu văn hóa ngoại lai tiềm ẩn nhiều nguy cơ; (2). Xây dựng “Vùng xanh văn hóa”, kiến tạo một môi trường văn hóa trên không gian mạng an toàn, lành mạnh, lan tỏa các giá trị đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc. 

          Để chiến lược phát huy hiệu quả tối ưu, cần đổi mới tư tuy tiếp cận. Thay vì chỉ tập trung vào việc ngăn chặn hay xóa bỏ các thông tin xấu độc, cần chủ động tạo ra và lan tỏa các thông tin tích cực, chính thống, nhân văn. “Phủ xanh” không gian bằng các câu chuyện về gương người tốt việc tốt, về thành tựu phát triển đất nước, về hệ giá trị văn hóa dân tộc, về chuẩn mực con người Việt Nam… nhằm tạo ra một vùng an toàn, giúp nâng cao “sức đề kháng” cho người dân trước các luận điệu sai trái, thù địch. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của các lực lượng trong xã hội trên tinh thần mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đều được khuyến khích trở thành một tuyên truyền viên tích cực trên mạng xã hội. Ngoài ra, để đưa thông tin chính thống đến với công chúng một cách nhanh chóng, hấp dẫn và dễ hiểu, các phương tiện truyền thông, báo chí truyền thống cần kết hợp linh hoạt với các nền tảng số và công nghệ mới như AI, Big Data... Chiến lược này không chỉ là một giải pháp kỹ thuật mà còn là sự tiếp nối tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc dùng văn hóa để giáo dục, khai sáng và đoàn kết nhân dân trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng. Trong môi trường văn hóa số lành mạnh với các sân chơi, diễn đàn, và không gian sáng tạo, người dân sẽ trở thành cư dân mạng thông minh, chủ động tiếp thu có chọn lọc các thông tin đúng, xanh, sạch, đẹp để phát triển nhân cách, thế giới quan cá nhân, đủ sức đề kháng trước các luồng thông tin xấu, độc, các luận điệu diễn biến hòa bình, giữ vững bản sắc dân tộc và bảo vệ tuyệt đối nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.

          Thứ ba, xây dựng “Biên giới mềm” nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ sớm, từ xa, không để các tư tưởng sai trái xâm nhập vào “lãnh thổ tinh thần” của nhân dân. Để thực hiện giải pháp này, cần phải xác lập “Chủ quyền” Việt Nam thông qua các hoạt động như: (1). Tăng cường tuyên tuyền tối đa các nội dung tích cực về đất nước, con người Việt Nam và hệ tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trên các nền tảng xuyên biên giới. Mở rộng, lan tỏa nguồn tin chính thống là điều kiện tiên quyết mở rộng “biên giới mềm” quốc gia; (2). Xây dựng nền tảng văn hóa số thông qua số hóa toàn bộ di sản văn hóa, lịch sử và lý luận chính trị, tạo thành nguồn dữ liệu “gốc” để đối chiếu và bác bỏ các thông tin xuyên tạc từ bên ngoài; (3). Phát huy sức mạnh của cộng đồng để bảo vệ “biên giới mềm” trên tinh thần coi mỗi cư dân mạng là một cột mốc chủ quyền quốc gia. Tập trung huy động những người có ảnh hưởng trên mạng tham gia bảo vệ hệ giá trị dân tộc, tạo ra sức đề kháng cộng đồng trước các trào lưu ngoại lai độc hại. Ngoài ra, để bảo vệ “biên giới mềm” rất cần có “hàng rào” kỹ thuật vững chắc do chính Việt Nam làm chủ. Điều này không những giúp giảm thiểu việc rò rỉ dữ liệu quốc gia và bị thao túng tư tưởng bởi thuật toán nước ngoài mà còn kiểm soát được luồng dữ liệu xuyên biên giới. Trong quá trình kiến tạo “biên giới mềm”, văn hóa là điều kiện lõi để “định danh” biên giới. Nói cách khác, nếu quốc gia không giữ dược bản sắc văn hóa dân tộc đồng nghĩa với mất biên giới số. Do đó, hệ giá trị đạo đức, lối sống của người Việt Nam chính là bản sắc, là dấu hiệu nhận diện trên không gian mạng, giúp người dân trở về nguồn cuội dù họ đang ở bất cứ đâu trên thế giới ảo.

          Tóm lại, xây dựng “thế trận văn hóa” chính là xây dựng niềm tin của nhân dân vào Đảng, biến niềm tin chính trị thành động lực tinh thần để mỗi người dân trở thành một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. Đây là chiến lược sống còn để bảo vệ đất nước, bảo vệ vững chắc chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chuyển hóa nền tảng tư tưởng của Đảng thấm sâu vào đời sống tinh thần của xã hội. Nói cách khác, xây dựng “thế trận văn hóa” giúp thiết lập hàng rào nhận thức, chống lại sự xói mòn bản sắc và các âm mưu “diễn biến hòa bình”, xâm lăng văn hóa của các thế lực thù địch, gia tăng sức “đề kháng” và nguồn lực nội sinh của dân tộc Việt Nam./ 

Thượng tá Nguyễn Tuyết Lan

Trưởng khoa, Học viện Chính trị Công an nhân dân

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
  2. Xem: Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943. https://doanthanhnien.vn/Content/uploads/de-cuong-van-hoa-1943-2023.pdf
  3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, t.7
  4. https://vtudien.com/viet-viet/dictionary/nghia-cua-tu-the-tran
  5. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2012.

         



[1] Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

[2] Nt.

[3] Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, t.7

[6] Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2012, tr 1197.

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất