Lý luận chính trị
Thứ Tư, 7/10/2026 7:38'(GMT+7)

100 NĂM ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1930 - 2030) – BẢN LĨNH, TRÍ TUỆ VÀ KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG

Kỳ 5: TẦM NHÌN NĂM 2045 - HIỆN THỰC HOÁ KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

Nhìn lại hành trình gần một thế kỷ kể từ mùa xuân lịch sử năm 1930, cách mạng Việt Nam đã đi qua những chặng đường vẻ vang và đầy kỳ tích. Từ thân phận nô lệ vươn lên giành độc lập, tự do; từ những năm tháng chiến tranh gian khổ đi đến hòa bình, thống nhất đất nước; từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, bị bao vây, cấm vận trở thành một quốc gia đang phát triển có vị thế và uy tín ngày càng cao trên trường quốc tế. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đó là nền tảng vững chắc để dân tộc Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới.

Hướng tới 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2030) và 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045), đất nước ta đang đứng trước thời cơ lịch sử để bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam phát triển, phồn vinh, hạnh phúc, có vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế. Văn kiện Đại hội XIV xác định: “Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao” (1).

1. Việt Nam và mục tiêu phát triển đến năm 2045

          Tầm nhìn năm 2045 không chỉ là những mục tiêu kinh tế đơn thuần, mà còn là sự kết tinh khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; là ý chí, quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” (2); coi đó là “đích đến” của kỷ nguyên vươn mình: “dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Cột mốc 2030 (100 năm thành lập Đảng): Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới mô hình phát triển, hoàn thiện thể chế, cải cách tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Những cải cách mạnh mẽ trong thời gian qua đã tạo nền tảng quan trọng cho mục tiêu này. Với tinh thần của công cuộc Đổi mới, cải cách của Việt Nam tiếp tục được đẩy mạnh trong những năm gần đây và đặc biệt là trong năm 2025. Về hệ thống chính trị, bộ máy Chính phủ được tinh gọn từ 30 cơ quan xuống còn 21; 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh được sắp xếp lại còn 34 tỉnh, thành phố; mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã được triển khai, góp phần nâng cao hiệu quả và năng suất quản lý hành chính.

          Cùng với cải cách trong nước, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa và trường phái “ngoại giao cây tre Việt Nam” đã giúp đất nước mở rộng không gian phát triển và tăng cường hội nhập quốc tế. Theo Văn kiện Đại hội XIV, tính đến tháng 10/2024, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết 17 FTA với trên 60 quốc gia, đối tác lớn trên toàn cầu và liên kết kinh tế song phương, đa phương, khu vực và liên khu vực.

          Môi trường chính trị, xã hội an ninh, trật tự ổn định tạo ra môi trường thuận lợi để triển khai thỏa thuận hợp tác ký kết trên tất cả các mặt. Đây là minh chứng cho sự phát triển vượt bậc và khẳng định vị thế mới của Việt Nam trên thế giới.

Cột mốc 2045 (100 năm thành lập nước): Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, định hướng xã hội chủ nghĩa.

          Qua 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế phát triển và tăng trưởng liên tục, từ một nước thiếu lương thực đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới; đứng trong nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới; xếp thứ 4 về quy mô kinh tế trong khu vực ASEAN-6, nhưng đứng thứ nhất về tốc độ tăng trưởng. Văn kiện Nghị quyết Đại hội XIV khẳng định: “Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi nhiều biến động không thuận từ môi trường quốc tế, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016 - 2025 đạt khoảng 6,2%/năm. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp đôi, đạt tương ứng trên 510 tỉ USD và trên 5.000 USD/người” (3). Chất lượng dân số từng bước được nâng cao gắn với sự chăm lo đầu tư phát triển các ngành y tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ. Việt Nam được Ngân hàng thế giới đánh giá là quốc gia tiên phong trong đổi mới giáo dục vì sự phát triển ấn tượng ở lĩnh vực này. Kinh tế Việt Nam năm 2025 đạt mức tăng trưởng ấn tượng 8,02%, trở thành quốc gia tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á... Những con số này cho thấy năng lực điều hành kinh tế hiệu quả, cũng như tiềm năng phát triển dài hạn của Việt Nam.

          Mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về chính phủ điện tử/chính phủ số (theo báo cáo đánh giá của Liên hợp quốc); quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP, kinh tế số trở thành một trong những động lực phát triển chủ yếu của nền kinh tế. Việt Nam đã đề ra các nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện các mục tiêu chiến lược đề ra đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, thu nhập cao, nơi tất cả mọi người đều có cơ hội phát triển toàn diện và được hưởng sự thịnh vượng, tự do, hạnh phúc và một xã hội văn minh. Con đường then chốt để hiện thực hóa các mục tiêu này là kiên định thúc đẩy tiến trình Đổi mới. 

          Để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược đề ra đến năm 2045, Việt Nam đã xác định nhiều nhiệm vụ trọng tâm, trong đó chuyển đổi số giữ vai trò quan trọng. Quyết định số 1266/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045. Theo Chiến lược, tầm nhìn đến năm 2045 Việt Nam trở thành quốc gia số phát triển, thịnh vượng, an toàn, nhân văn; chuyển đổi số được triển khai toàn diện, đồng bộ, sâu rộng và bao trùm, trở thành phương thức phát triển chủ đạo, động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, đồng thời là đối tượng thụ hưởng chính của quá trình chuyển đổi số. Việt Nam có nền quản trị quốc gia hiện đại, dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI); làm chủ các công nghệ số, nền tảng số và sản phẩm số chiến lược; bảo đảm vững chắc chủ quyền số quốc gia.

          Chân dung Việt Nam năm 2045 được định hình là một nền kinh tế tri thức, tự chủ chiến lược; một xã hội văn minh, công bằng, nơi chỉ số phát triển con người (HDI) của người dân được đặt ở vị trí trung tâm và không ai bị bỏ lại phía sau. Vì thế Việt Nam năm 2045 không chỉ được đo bằng quy mô kinh tế hay thu nhập bình quân đầu người, mà còn được thể hiện ở chất lượng cuộc sống, ở chỉ số phát triển con người, ở sức mạnh nội sinh của văn hóa, ở sự ổn định chính trị, ở khát vọng dân tộc và ở vị thế của đất nước trong cộng đồng quốc tế.

2. Bản lĩnh vượt thách thức, chớp thời cơ vàng

Hành trình hướng tới năm 2045 không hoàn toàn là con đường thuận lợi, mà đối mặt với vô vàn khó khăn, đòi hỏi Đảng phải lãnh đạo Nhân dân hoá giải bốn nhóm thách thức đan xen: thách thức từ bên ngoài; thách thức từ mô hình tăng trưởng; thách thức từ cơ cấu dân số và chênh lệch xã hội; và thách thức từ năng lực quản trị quốc gia.

Việt Nam đang đứng trước thách thức: Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, diễn biến địa chính trị phức tạp, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, già hóa dân số nhanh và biến đổi khí hậu diễn biến gay gắt.

Cục diện thế giới hiện nay đang bước vào một giai đoạn chuyển dịch quyền lực sâu sắc và toàn diện. Quan hệ giữa các nước lớn, đặc biệt là cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung, ngày càng gay gắt, lan rộng từ thương mại, đầu tư, công nghệ cao sang địa chính trị, an ninh khu vực và an ninh chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, sự chia rẽ trong cấu trúc kinh tế thế giới và xu hướng “địa chính trị hóa” thương mại khiến các quốc gia quy mô vừa và nhỏ, trong đó có Việt Nam, phải chịu áp lực lưỡng diện rất lớn. Đối với Việt Nam, một nền kinh tế có độ mở rất lớn, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tương đương khoảng 200% GDP, những cú sốc từ bên ngoài dễ tạo ra tác động lan truyền nhanh và sâu. Suy giảm nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu chủ lực có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng; biến động dòng vốn quốc tế ảnh hưởng đến thu hút FDI; trong khi những thay đổi về chính sách tiền tệ toàn cầu có thể gây áp lực lên tỷ giá, lãi suất và ổn định tài chính trong nước. Đồng thời, lạm phát nhập khẩu từ giá năng lượng, lương thực và nguyên vật liệu đầu vào đặt ra thách thức lớn đối với điều hành vĩ mô.

Cùng với đó, cuộc cạnh tranh về công nghệ đang diễn ra với tốc độ chưa từng có. Trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, công nghệ xanh và nhiều công nghệ mới đang trở thành những yếu tố ngày càng quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Việt Nam có cơ hội tiếp cận nhanh với những thành tựu công nghệ mới, nhưng đồng thời phải đối mặt với những điểm nghẽn về hạ tầng số, nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lực nghiên cứu và phát triển, cũng như khả năng hấp thụ và làm chủ công nghệ. Khoảng cách công nghệ nếu không được thu hẹp sẽ không chỉ tạo ra khoảng cách về năng suất và năng lực cạnh tranh mà còn có thể làm gia tăng sự phụ thuộc vào công nghệ và nguồn lực bên ngoài.

          Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng sau gần bốn thập kỷ đổi mới, năng suất lao động của Việt Nam vẫn ở mức thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế thời gian qua vẫn còn dựa nhiều vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ và mở rộng quy mô, trong khi đóng góp của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực chưa tương xứng với yêu cầu phát triển mới. Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền là một thách thức lớn đối với ổn định xã hội và phát triển bền vững.

          Để giải quyết các thách thức đó, năng lực quản trị quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một bộ máy có năng lực quản trị cao, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và tổ chức thực thi chính sách tốt sẽ giúp chuyển hóa nguồn lực thành kết quả phát triển, biến thách thức thành cơ hội. Ngược lại, những hạn chế trong hoạch định chính sách, điều hành và tổ chức thực thi có thể làm suy giảm hiệu quả của các chủ trương, chính sách, đồng thời ảnh hưởng đến niềm tin và sự đồng thuận xã hội. Vì vậy, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và phát huy trách nhiệm của đội ngũ cán bộ là một trong những điều kiện quyết định để Việt Nam giữ vững thế nước, củng cố lòng dân và tạo nền tảng cho mục tiêu phát triển đến năm 2045.

Bên cạnh thách thức lớn, Việt Nam có cả thời cơ vàng: Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, sự bùng nổ của Trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi xanh và làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở ra cơ hội “đi tắt, đón đầu” chưa từng có. Thời cơ ấy không tự đến mà phải được nhận diện và chớp lấy trên ba phương diện.

Thứ nhất, về công nghệ: cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo lần đầu tiên cho phép một nước đi sau rút ngắn khoảng cách mà không phải lặp lại toàn bộ các bước phát triển của nước đi trước, bởi hạ tầng số có chi phí triển khai thấp hơn hẳn hạ tầng vật chất truyền thống.

Thứ hai, về chuỗi cung ứng: làn sóng dịch chuyển và đa dạng hoá chuỗi cung ứng toàn cầu đang tìm đến những địa bàn có ổn định chính trị, chi phí hợp lý và hội nhập sâu bằng các hiệp định thương mại tự do - đúng ba lợi thế mà Việt Nam đang có. Đây là cơ hội để Việt Nam không chỉ tham gia mà từng bước nắm giữ những mắt xích có giá trị gia tăng cao hơn, thay vì mãi ở khâu gia công, lắp ráp.

Thứ ba, về con người: Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ dân số vàng, với lực lượng lao động trẻ, khả năng tiếp nhận công nghệ nhanh và tinh thần hiếu học. Song thời kỳ này sẽ kết thúc khi đất nước bước vào giai đoạn già hoá từ khoảng năm 2036 - nghĩa là dư địa chỉ còn khoảng một thập kỷ. Chính sự gặp nhau giữa một cơ hội công nghệ chưa từng có và một khung thời gian hữu hạn làm nên tính chất “vàng” của thời cơ hiện nay: chậm một nhịp là mất cả chu kỳ phát triển.

          Ba trụ cột trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, kinh tế và công nghệ tạo động lực; môi trường và năng lượng bảo đảm nền tảng phát triển bền vững; xã hội và con người vừa là mục tiêu, vừa là chủ thể và nguồn lực của phát triển.Đây chính là cơ sở để Việt Nam chuyển hóa thời cơ thành sức mạnh phát triển, tạo nền tảng hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc vào năm 2045.

3. Ba đột phá chiến lược để vươn mình

Để biến tầm nhìn thành hiện thực, Đảng tiếp tục xác định và đẩy mạnh ba đột phá chiến lược với quy mô và tầm vóc mới: “Đột phá thể chế là chìa khóa của mọi chìa khóa; Đổi mới sáng tạo là động lực của mọi động lực; Nguồn nhân lực chất lượng cao là gốc rễ của mọi thành công”.“Ba đột phá chiến lược, các mô hình, phương thức phát triển kinh tế mới được cụ thể hoá thành các nhiệm vụ, giải pháp và được thể chế hoá thành nhiều cơ chế, chính sách để thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Việc xây dựng, hoàn thiện thể chế thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, áp dụng một số mô hình kinh tế mới được đẩy nhanh. Các mô hình kinh tế mới đã được các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, lồng ghép vào các quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, địa phương” (4).

Việt Nam cần tiếp tục phát huy và tạo chuyển biến mạnh mẽ trong ba đột phá chiến lược với quy mô và tầm vóc mới: thể chế là chìa khóa mở đường; khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu; nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân tài là nguồn lực nội sinh, nền tảng của mọi thành công. Ba đột phá này không tồn tại độc lập mà có quan hệ chặt chẽ, bổ trợ và thúc đẩy lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể để giải phóng nguồn lực, nâng cao năng suất, phát triển lực lượng sản xuất mới và tạo động lực cho tăng trưởng nhanh, bền vững.

Đột phá về thể chế: Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Khơi thông mọi nguồn lực, giải phóng triệt để sức sản xuất, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN tinh gọn, hiệu năng, kiến tạo và phục vụ.

Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” nhưng cũng là “đột phá của đột phá”; phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới. “Kiên quyết xóa bỏ cơ chế “xin-cho”, giảm tối đa thủ tục hành chính; đẩy mạnh số hóa toàn diện, toàn trình, liên thông dữ liệu. Lấy thời gian, chi phí của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chất lượng cải cách; bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh”.

Để tháo gỡ những điểm nghẽn, đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên mới, thể chế tiếp tục được Đảng xác định là khâu đột phá quan trọng cho phát triển. Nhằm hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Đảng ta đã đề ra những quan điểm, chủ trương, quyết sách quan trọng, đặc biệt là “bộ tứ trụ cột” cho sự phát triển đất nước, gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Bốn Nghị quyết này là những trụ cột thể chế nền tảng, tạo động lực mạnh mẽ đưa đất nước tiến lên trong kỷ nguyên mới, hiện thực hoá tầm nhìn phát triển Việt Nam. Các Nghị quyết đều nhấn mạnh vai trò lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự đồng bộ, sáng tạo của cả hệ thống chính trị, cùng sự tham gia của các doanh nghiệp, người dân và giới trí thức.

          Đột phá về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo lập lực lượng sản xuất mới: Nếu thể chế là chìa khóa mở đường thì khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để nâng cao năng suất và tạo ra những nguồn lực tăng trưởng mới. Trong kỷ nguyên số, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, công nghệ bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ xanh và các nền tảng số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, kinh doanh và quản trị.

          Dưới tác động của những công nghệ đó, lực lượng sản xuất đang biến đổi sâu sắc. Lực lượng sản xuất mới được hình thành từ sự kết hợp của nhân lực số, công nghệ số và các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, với đặc trưng là tính phi vật chất, tính kết nối và tốc độ đổi mới nhanh. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam phải phát triển lực lượng sản xuất mới nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Phát triển lực lượng sản xuất mới không chỉ là một lựa chọn phát triển, mà là yêu cầu sống còn để giữ vững độc lập, tự chủ, nâng cao nội lực, tăng sức chống chịu của nền kinh tế và củng cố tiềm lực quốc gia trong môi trường cạnh tranh toàn cầu ngày càng quyết liệt.

          Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh phải “tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại, ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược, trọng tâm là chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo”. Điều này phản ánh tầm nhìn rất xa của Đảng: lực lượng sản xuất mới trong thời đại ngày nay phải gắn với những công nghệ lõi, những lĩnh vực mũi nhọn, những nền tảng số và trí tuệ nhân tạo - tức là những thành tố đang trực tiếp định hình tương lai phát triển của thế giới. 

          Chi tiêu cho R&D (nghiên cứu và phát triển) của Việt Nam đạt khoảng 0,53% GDP (tương đương 2-3 tỷ USD/năm), cho thấy bước chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa vào tri thức và công nghệ. Tuy nhiên, mức này vẫn thấp so với trung bình thế giới (2,2% GDP), đặt ra yêu cầu tiếp tục đột phá thể chế nhằm thúc đẩy đầu tư cho khoa học, công nghệ, phát triển thị trường công nghệ và gắn kết hiệu quả giữa nghiên cứu với sản xuất (5). Thực tiễn cho thấy quá trình phát triển lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam vẫn bị cản trở bởi nhiều điểm nghẽn thể chế, làm hạn chế hiệu quả khai thác các nguồn lực như dữ liệu, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao. Trước hết thể hiện ở sự chậm thích ứng của hệ thống pháp lý trước tốc độ phát triển của công nghệ. Các lĩnh vực như AI, kinh tế nền tảng, tài sản số hay fintech (công nghệ tài chính) vẫn thiếu khung pháp lý rõ ràng; mức độ sẵn sàng pháp lý cho kinh tế số của Việt Nam chỉ ở mức trung bình trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Sự chồng chéo giữa các luật cũng làm gia tăng chi phí tuân thủ, khiến doanh nghiệp phải dành nhiều thời gian cho thủ tục hành chính. Những bất cập này càng rõ khi các thị trường yếu tố sản xuất phát triển chưa đồng bộ. 

          Khi lực lượng sản xuất mới được phát triển đúng hướng, đất nước sẽ có điều kiện hình thành các ngành công nghiệp mới, công nghệ mới, các lĩnh vực kinh tế có giá trị gia tăng cao; từng bước làm chủ những mắt xích quan trọng hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu; giảm lệ thuộc vào các yếu tố đầu vào bên ngoài; tăng khả năng tự chủ về công nghệ, dữ liệu, nhân lực chất lượng cao và năng lực đổi mới sáng tạo. Đây là nội dung có ý nghĩa chiến lược không chỉ về kinh tế mà còn về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và vị thế quốc gia.

Đột phá về nguồn nhân lực và nhân tài:

Đất nước muốn “vươn mình” thì trước hết phải có một đội ngũ đủ sức gánh vác sứ mệnh đó - từ quản trị nhà nước, quản trị doanh nghiệp đến nghiên cứu khoa học, công nghệ, sản xuất và dịch vụ. Điểm quan trọng là đột phá nhân lực không chỉ nhắm tới một nhóm tinh hoa hẹp, mà hướng tới một cấu trúc nhân lực quốc gia đủ mạnh: hình thành đội ngũ cán bộ quản lý giỏi, chuyên gia giỏi, doanh nhân giỏi, nhà khoa học giỏi, cùng với lực lượng công nhân kỹ thuật cao - những người trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ và năng suất lao động.

Trọng tâm của đột phá này là đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nhân lực khoa học - công nghệ và nhân lực số; đồng thời xây dựng cơ chế phát hiện, thu hút, sử dụng và trọng dụng nhân tài. Song song với việc đào tạo thế hệ công dân có năng lực hội nhập quốc tế, cần chú trọng bồi dưỡng bản lĩnh, trách nhiệm, đạo đức, ý thức dân tộc và khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường phát triển. Mục tiêu là hình thành những con người vừa có năng lực chuyên môn, tư duy sáng tạo, khả năng làm chủ công nghệ, vừa có trách nhiệm với cộng đồng và đất nước.

Điểm quan trọng là đột phá nhân lực không chỉ nhắm tới một nhóm tinh hoa hẹp, mà hướng tới một cấu trúc nhân lực quốc gia đủ mạnh: Hình thành đội ngũ cán bộ quản lý giỏi, chuyên gia giỏi, doanh nhân giỏi, nhà khoa học giỏi, cùng với lực lượng công nhân kỹ thuật cao - những người trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ và năng suất lao động.

Cần đào tạo thế hệ công dân toàn cầu mang đậm bản sắc Việt Nam, đồng thời trọng dụng nhân tài và tạo cơ chế đột phá để bảo vệ cán bộ dũng cảm nghĩ, dũng cảm làm, dũng cảm đổi mới vì lợi ích chung. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển toàn diện con người ngày càng hoàn thiện, thực chất hơn. Công tác phát hiện, thu hút, đào tạo và trọng dụng nhân tài bước đầu có chuyển biến tích cực. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước có mức phát triển con người cao. Đáng chú ý, chỉ số hạnh phúc quốc gia tăng 33 bậc so với đầu nhiệm kỳ, xếp thứ 46/143 quốc gia (6).

Thực tiễn đất nước đang đặt ra những yêu cầu khách quan đối với 3 đột phá chiến lược, coi đây là những nền tảng bắt buộc để "làm" mang lại kết quả thực chất. Văn kiện Đại hội XIV, khẳng định ba đột phá chiến lược được nêu trong các Văn kiện đều rất quan trọng và gắn kết chặt chẽ với nhau. Thể chế là “chìa khoá mở đường”, nhân lực là “nguồn lực nội sinh”, còn lực lượng sản xuất mới - với hạ tầng số và công nghệ lõi làm nền - là “bệ đỡ” cho phát triển. Ba yếu tố này cần được triển khai đồng bộ. Trong từng giai đoạn có thể xem xét thứ tự ưu tiên cho phù hợp yêu cầu xây dựng và phát triển. Tinh thần của Đại hội là khi bước vào nhiệm kỳ mới, ba đột phá chiến lược không chỉ dừng ở "đúng hướng", mà phải "đúng nhịp": Làm thật mạnh - làm thật nhanh - làm đến nơi đến chốn, với tinh thần xuyên suốt: Tập trung nguồn lực, tập trung lãnh đạo, tập trung thực thi.

4. Năng lực lãnh đạo của Đảng - Nhân tố quyết định mọi thắng lợi

          Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, hơn 40 năm đổi mới: “Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại” (7). Thực tiễn đó cho thấy năng lực lãnh đạo của Đảng trước hết được thể hiện ở bản lĩnh chính trị, trí tuệ, năng lực hoạch định đường lối và khả năng tổ chức thực hiện đường lối trong thực tiễn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh rằng vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của Đảng được tạo nên bởi “bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho đất nước”, đồng thời bằng sự gắn bó mật thiết với Nhân dân (8). Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định yêu cầu “nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”, đồng thời nhấn mạnh phải nâng cao bản lĩnh, năng lực lãnh đạo, cầm quyền trong hoạch định và thực hiện đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại. Đây không chỉ là yêu cầu đối với năng lực lãnh đạo đất nước, mà còn là điều kiện quan trọng để Đảng giữ vững vai trò định hướng chính trị, tư tưởng trong quá trình phát triển.

          Trong bối cảnh mới, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi môi trường trong nước, khu vực và quốc tế có nhiều biến đổi nhanh chóng, phức tạp. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo sự chuyển biến, đột phá mới, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đồng thời, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, Tổng Bí thư tiếp tục đặt vấn đề phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới (9).

          Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định trọng trách lịch sử hiện nay là lãnh đạo, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Sứ mệnh này đã được nêu bật trong chủ đề Đại hội Đảng XIV: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội”. Đó là sự kết tinh bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng phát triển của cả dân tộc.

          Thực tiễn đó khẳng định: chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, uy tín lãnh đạo đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Như vậy, Việt Nam đã tích lũy được nền tảng thế, lực và hội tụ đủ điều kiện cần thiết để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm. Mọi mục tiêu dù đại tài đến đâu cũng sẽ chỉ nằm trên giấy nếu thiếu đi vai trò hạt nhân lãnh đạo của Đảng. Để gánh vác sứ mệnh lịch sử đưa đất nước tới năm 2045, Đảng không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo trên hai phương diện:

Một là, lãnh đạo bằng bản lĩnh, trí tuệ và sự nêu gương: Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị nhà nước, nâng cao năng lực dự báo chiến lược, ứng biến linh hoạt trước các biến động toàn cầu. Tinh thần tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng được xem như động lực nội sinh của những quyết sách mạnh mẽ thời gian qua. Việc thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, coi xây dựng và chỉnh đốn Đảng là yêu cầu thường xuyên đã góp phần củng cố niềm tin xã hội, tạo nền tảng cho các mục tiêu phát triển dài hạn. Trong Văn kiện Đại hội Đảng XIV, lý luận về đường lối Đổi mới được chính thức xác định là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng.

Hai là, Khơi dậy khát vọng hùng cường: Biến Tầm nhìn 2045 thành ngọn cờ triệu tập, thành hành động cách mạng tự giác của từng đảng viên, từng doanh nghiệp và từng người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Trí tuệ, tầm nhìn chiến lược dài hạn và tư duy đổi mới sáng tạo của Đảng đã trở thành “nguồn sáng” soi rọi con đường Việt Nam tiến bước vào kỷ nguyên mới. Đó là kỷ nguyên không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng hay những con số kinh tế, mà bằng chất lượng phát triển, bằng hạnh phúc của nhân dân, bằng bản lĩnh và vị thế của một quốc gia tự chủ, tự tin, tự cường và có trách nhiệm. Khi đường lối đúng đắn gặp sự đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân, sức mạnh tổng hợp ấy sẽ trở thành điểm tựa vững chắc để Việt Nam cùng nhau tiến bước, đồng lòng dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng.

Kết luận: Hành trình từ mùa xuân năm 1930 đến năm 2045 là một mạch ngầm lịch sử chảy xuyên suốt bằng bản lĩnh, trí tuệ và lòng yêu nước nồng nàn. Lịch sử 100 năm thành lập Đảng chính là điểm tựa kiên cường nhất để dân tộc Việt Nam tự tin cất cánh. Dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng Cộng sản Việt Nam, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, chúng ta có đầy đủ căn cứ, bản lĩnh và niềm tin để thực hiện trọn vẹn di nguyện vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, để dân tộc Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu”.

TS, Đại tá Tống Văn Khuông

TS, Trung tá Lê Mai Trang

ThS, Thiếu tá Trần Thị Thảo

 

Chú thích:

(1)(3)(4): Đảng Cộng sản Việt Nam (2026): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb CTQG-ST, Hà Nội, tr.203-204; tr.18; tr.107

(2) Tô Lâm: “Một số nhận thức cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Tạp chí Cộng sản, số 1050, tháng 11-2024, tr. 3

(5) https://www.qdnd.vn/chinh-tri/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/nghi-quyet-va-cuoc-song/dot-pha-the-che-nham-phat-trien-luc-luong-san-xuat-moi-1033651

(6) https://vov.vn/chinh-tri/dot-pha-nhan-luc-nen-tang-cho-viet-nam-but-pha-post1261353.vov

(7) Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng, đăng trên Báo Nhân dân, ngày 1-2-2024. 

(8): https://baochinhphu.vn/dien-van-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc- nguyen-phu-trong-tai-phien-be-mac-dai-hoi-xiii-cua-dang-102287022.htm?utm_source=chatgpt.com

(9) Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí Thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

 

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất