Lý luận chính trị
Thứ Sáu, 2/10/2026 7:46'(GMT+7)

100 NĂM ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1930 - 2030) - BẢN LĨNH, TRÍ TUỆ VÀ KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG

Kỳ 3: XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG - TỪ NHẬN THỨC LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN HÀNH ĐỘNG

 

Kỳ 3: "Xây dựng, chỉnh đốn Đảng - Từ nhận thức lý luận đến thực tiễn hành động" tập trung phân tích hệ thống quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua 40 năm Đổi mới. Bài viết làm rõ bước chuyển chiến lược từ nhận diện nguy cơ suy thoái sang kiểm soát quyền lực, thể chế hóa và quản trị đồng bộ hệ thống chính trị. Trên cơ sở quán triệt tinh thần Đại hội XIV và các quyết sách mới năm 2026, bài viết đề xuất các giải pháp trọng tâm về đạo đức công vụ, kiểm tra giám sát và công tác cán bộ, làm nền tảng vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

1. Tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một tổng thể những nội dung, nhiệm vụ gắn bó chặt chẽ với nhau nhằm mục đích làm cho Đảng vững mạnh, trong sạch, đủ năng lực, uy tín để lãnh đạo, cầm quyền, thực hiện thành công mục tiêu xây dựng phát triển đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, bao gồm nội dung về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ, đảng viên, kiểm tra, kỷ luật, dân vận, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi xây dựng và chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt, quyết định sự tồn vong của Đảng và chế độ. Người yêu cầu Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn trên cả bốn mặt: tư tưởng, chính trị, tổ chức và đạo đức; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham nhũng, thoái hóa. Bác nhấn mạnh cán bộ là “cái gốc của mọi công việc”, phải rèn luyện đạo đức cách mạng, giữ vững kỷ luật, đoàn kết và gần gũi Nhân dân. Trong Di chúc, Người căn dặn: "Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng".

Nhận thức sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trải qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ có ý nghĩa then chốt. Điều này cũng bắt nguồn từ một logic đơn giản nhưng sâu sắc: mọi đường lối đúng đắn, mọi chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, dù được hoạch định khoa học đến đâu, cũng chỉ có thể hiện thực hóa thông qua một tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh và một đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ bản lĩnh, đủ năng lực, đủ đạo đức để triển khai. Một Đảng suy yếu về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức sẽ không thể là chủ thể lãnh đạo đáng tin cậy. Đồng thời, với vị thế là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo toàn diện Nhà nước và xã hội, bản lĩnh và trí tuệ của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền trực tiếp với sự ổn định và phát triển của cả quốc gia. Chính vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một trong những mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIV xác định, được đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện cho thấy công tác xây dựng Đảng không đứng tách biệt, mà là điều kiện nền tảng cho toàn bộ công cuộc cải cách thể chế quốc gia.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, giai đoạn được gọi là "kỷ nguyên vươn mình của dân tộc", Đảng còn phải đối diện với những thách thức chưa từng có tiền lệ: sự phức tạp của kinh tế thị trường, tốc độ lan truyền thông tin trên không gian mạng, và các phương thức xuyên tạc tinh vi, có chủ đích từ những thế lực thù địch nhằm làm suy giảm niềm tin của Nhân dân. Trong bối cảnh đó, năng lực tự chỉnh đốn không chỉ là điều kiện để Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo, mà còn là "lá chắn nội sinh" bảo vệ Đảng trước mọi âm mưu chống phá từ bên ngoài - bởi sự trong sạch, vững mạnh tự thân bao giờ cũng là phương thức phòng ngừa hiệu quả nhất.

2. Sự phát triển nhận thức về xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua các kỳ Đại hội  

Nhận thức về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam từ khi tiến hành công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay không phải là một hệ thống quan điểm bất biến, mà là một quá trình bổ sung và phát triển liên tục trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nhận diện những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình Đảng lãnh đạo và cầm quyền. Tiến trình 40 năm đổi mới cho thấy một logic phát triển từ đổi mới tư duy và tự phê bình về đường lối đến xác lập yêu cầu đổi mới, chỉnh đốn Đảng; từ nhận diện các nguy cơ suy thoái đến cụ thể hóa các biểu hiện; từ xử lý sai phạm sang xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực và gần đây, Trung ương đã thể chế hóa, lượng hóa và tổ chức thực hiện đồng bộ công tác xây dựng Đảng trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển đất nước. Như vậy, sự phát triển trong nhận thức không đơn thuần là sự gia tăng số lượng nghị quyết, quy định hay công cụ kiểm tra, mà sâu xa hơn là sự thay đổi trong cách nhìn về quá trình tự đổi mới và tự chỉnh đốn của một đảng cầm quyền

Đại hội VI - đổi mới tư duy và tiền đề phương pháp luận của xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

 Đại hội VI (1986) không chỉ thông qua đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mà còn đặt nền móng quan trọng cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật" đánh dấu một bước chuyển quan trọng, công tác xây dựng Đảng trước hết phải bắt đầu từ khả năng tự nhận thức, tự phê bình và tự điều chỉnh trước những đòi hỏi của thực tiễn.

Trong bối cảnh mô hình quản lý kinh tế - xã hội trước đổi mới bộc lộ nhiều hạn chế, vấn đề đặt ra không chỉ là sửa chữa một số khuyết điểm trong tổ chức cán bộ hay phương thức hoạt động của Đảng, mà sâu hơn là đổi mới tư duy lãnh đạo, phương thức hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối. Do đó, xây dựng Đảng được đặt trong quan hệ trực tiếp với đổi mới đất nước. Đây là tầng nhận thức đầu tiên của thời kỳ đổi mới, muốn chỉnh đốn Đảng trước hết phải có năng lực nhận diện đúng thực tiễn và dám sửa chữa những nhận thức, phương thức lãnh đạo không còn phù hợp. Đây là tiền đề phương pháp luận cho toàn bộ quá trình phát triển tư duy về xây dựng, chỉnh đốn Đảng sau đó.

 Đại hội VII và Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII: từ đổi mới tư duy sang chủ động đổi mới, chỉnh đốn Đảng.

Nếu Đại hội VI đặt nền móng về đổi mới tư duy, thì Hội nghị Trung ương 3 khóa VII năm 1992 đã bước đầu hệ thống hóa yêu cầu đổi mới, chỉnh đốn Đảng thành một nhiệm vụ chiến lược trong điều kiện mới. Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 26/6/1992 xác định nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng là "đặc biệt quan trọng và cấp bách", có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, vận mệnh của chế độ và của chính Đảng. Nghị quyết đồng thời thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong công tác xây dựng Đảng: nghiên cứu lý luận chậm so với thực tiễn, công tác tư tưởng còn bị động, một số nghị quyết chưa được cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đến nơi đến chốn.

Đặc biệt, Nghị quyết năm 1992 đã đặt xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong mối quan hệ với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, kiện toàn hệ thống chính trị và củng cố mối liên hệ giữa Đảng với Nhân dân, bởi chất lượng lãnh đạo của Đảng chịu sự quy định và kiểm nghiệm trực tiếp từ những biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội. Như vậy, ở giai đoạn này, Đảng xác định công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần thích ứng thể chế với một môi trường kinh tế - xã hội đang thay đổi căn bản.

Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII nhấn mạnh chống chủ nghĩa cá nhân và xây dựng Đảng về đạo đức.

Đến năm 1999, trong bối cảnh kinh tế thị trường từng bước phát triển và những mặt trái của quá trình chuyển đổi ngày càng bộc lộ, yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đặt ra cấp thiết hơn. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 2/2/1999 của Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII xác định nhiều vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng; đồng thời triển khai cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với tự phê bình và phê bình, nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng.

Nếu những năm đầu đổi mới nhấn mạnh nguy cơ của tư duy bảo thủ, giáo điều và sự bất cập của cơ chế lãnh đạo, thì đến cuối thập niên 1990, vấn đề nổi lên ngày càng rõ là sự biến đổi động cơ của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường. Vì vậy, chỉnh đốn Đảng không chỉ là chỉnh đốn tổ chức mà còn là chỉnh đốn chủ thể thực thi quyền lực. Đây là một bước chuyển quan trọng, bởi nó đưa vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên từ phạm vi giáo dục chung sang phạm vi kiểm soát những biến dạng có thể xuất hiện trong quá trình thực thi quyền lực.

Từ Đại hội XI đến Đại hội XII: từ nhận diện chung sang cụ thể hoá các biểu hiện suy thoái.

Một bước phát triển rõ nét hơn xuất hiện trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI năm 2012 và được tiếp tục cụ thể hóa trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII năm 2016. Nếu trước đó vấn đề suy thoái thường được diễn đạt ở mức độ khái quát như vi phạm đạo đức, chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, quan liêu, thì giai đoạn này bắt đầu hình thành một hệ thống nhận diện cụ thể hơn về các dạng thức suy thoái trong nội bộ. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật”, đồng thời xác định rõ quan điểm kết hợp giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài và “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Đáng chú ý, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã cụ thể hóa 27 biểu hiện gồm 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống và 9 biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". 

Về phương diện lý luận, đây là bước chuyển từ nhận diện hiện tượng sang xây dựng hệ thống chỉ báo nhận diện. Việc cụ thể hoá các biểu hiện có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng, bởi một nguy cơ chỉ có thể được quản trị hiệu quả khi được chuyển từ khái niệm chung thành những dấu hiệu dễ nhận biết, kiểm tra và đối chiếu.

Tuy nhiên, cũng cần phân biệt giữa nhận diện nguy cơ và kiểm soát nguy cơ. Việc xác định các biểu hiện suy thoái là điều kiện cần, nhưng chưa tự động tạo ra cơ chế ngăn ngừa.

Đại hội XIII và Kết luận Trung ương 4 khóa XIII: từ nhận diện suy thoái sang kiểm soát quyền lực và xây dựng cơ chế phòng ngừa.

Giai đoạn Đại hội XIII đánh dấu sự mở rộng đáng kể phạm vi của tư duy xây dựng, chỉnh đốn Đảng, từ xây dựng tổ chức Đảng sang xây dựng, chỉnh đốn cả Đảng và hệ thống chính trị. Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương xác định mục tiêu đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Kết luận 21 thể hiện thay đổi quan trọng về logic quản trị, không chỉ xử lý người vi phạm mà phải kiểm soát môi trường và điều kiện làm phát sinh vi phạm.

Đại hội XIV: từ tích lũy chính sách sang xu hướng thể chế hóa và quản trị đồng bộ.

Đại hội XIV diễn ra tại Hà Nội từ ngày 19 đến ngày 23/1/2026. Các văn kiện được thông qua tiếp tục đặt xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong chỉnh thể chung của quá trình phát triển đất nước; nội dung của Báo cáo Chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội và Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng được tích hợp thành một chỉnh thể thống nhất. Sự tích hợp này phán ánh xu hướng thể hiện công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội có quan hệ hữu cơ trong cùng một hệ thống lãnh đạo và quản trị. Nói cách khác, xây dựng Đảng không biệt lập đứng bên cạnh phát triển, mà ngày càng được tiếp cận như một điều kiện nội tại của năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển.

Ngay sau đó, việc Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV ban hành Quy định số 19-QĐ/TW ngày 8/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng không chỉ xác định mục đích, yêu cầu và nội dung mà còn quy định trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cùng chế độ kiểm tra, giám sát, khen thưởng và xử lý vi phạm. Quy định 19-QĐ/TW tiếp tục khẳng định yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” được xác định là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, còn “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách; đồng thời nhấn mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong công tác chính trị, tư tưởng. Như vậy, đặt Quy định 19-QĐ/TW trong tiến trình từ Đại hội VI đến Đại hội XIV, có thể thấy tư duy xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng chuyển từ những nguyên tắc và định hướng chính trị sang các quy trình, trách nhiệm, tiêu chí và cơ chế kiểm tra, giám sát cụ thể hơn.

Như vậy, sự phát triển nhận thức của Đảng trong xây dựng, chỉnh đốn đảng phát triển theo hướng ngày càng gắn chặt với thực tiễn hoạch định chiến lược, tổ chức thực hiện quyết sách của Đảng cầm quyền. Trọng tâm phát triển nhận thức đã dịch chuyển từ “con người” sang “con người và thể chế, trước hết coi trọng phẩm chất, bản lĩnh, đạo đức và tính tự giác của cán bộ, đảng viên, tiếp đến, bổ sung kiểm tra, giám sát, kỷ luật, trách nhiệm nêu gương, kiểm soát quyền lực và cơ chế phòng ngừa. Điều này phản ánh một nhận thức ngày càng rõ hơn rằng, không thể chỉ kỳ vọng vào sự tự giác của cá nhân để kiểm soát quyền lực mà cần xây dựng những cơ chế khiến hành vi đúng được khuyến khích và hành vi sai bị phát hiện, ngăn chặn và xử lý. Đồng thời, “xây” và “chống” ngày càng được tiếp cận như hai mặt của cùng một quá trình và “chỉnh đốn Đảng” đang mở rộng thành “xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”.

3. Tiếp tục quán triệt thực hiện chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới

Từ sự phát triển nhận thức về xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua các thời kỳ có thể thấy, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay không còn chỉ là tiếp tục bổ sung các chủ trương, quy định nhằm "chỉnh đốn" những biểu hiện sai phạm, mà quan trọng hơn là xây dựng được một cơ chế tự đổi mới, tự kiểm soát và tự hoàn thiện có khả năng vận hành thường xuyên trong toàn Đảng và hệ thống chính trị. Đại hội XIV tiếp tục khẳng định yêu cầu đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; đổi mới đồng bộ phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện của Đảng; đổi mới công tác cán bộ, tăng cường kiểm soát quyền lực và tiếp tục đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực. Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV, cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm:

Một là, xây dựng nền tảng chính trị, đạo đức và văn hóa nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng trước hết phải bắt đầu từ chất lượng của chủ thể thực thi quyền lực. Vì vậy, cần tiếp tục chuyển mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức từ "học tập" sang "thực hành", từ truyền đạt nhận thức sang hình thành chuẩn mực hành vi. Đây chính là điểm đáng chú ý trong Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Chỉ thị không chỉ nhấn mạnh việc học tập mà đặt "thực hành" ở vị trí trực tiếp, nhằm khắc phục tình trạng nhận thức không chuyển hóa thành hành động. Việc thực hiện cần gắn với thực hiện nghiêm Quy định số 207-QĐ/TW ngày 26/7/2026 về những điều đảng viên không được làm, tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu và kỷ luật của đảng viên; đồng thời khuyến khích tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Từ đó, hình thành văn hóa Đảng, chuẩn mực đạo đức được chuyển hóa thành hành vi nghề nghiệp, trách nhiệm công vụ và kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Hai là, đổi mới kiểm tra, giám sát theo hướng kiểm soát quyền lực và phòng ngừa từ sớm, từ xa.

Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 7/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đã xác định kiểm tra, giám sát là một trong những phương thức, chức năng lãnh đạo quan trọng của Đảng, là cơ chế để Đảng tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện, đồng thời là công cụ kiểm soát quyền lực. Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường giám sát thường xuyên, giám sát ngay từ đầu và gắn kiểm tra, giám sát với công tác cán bộ, công tác chính trị tư tưởng và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền. Trên cơ sở đó, Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng tạo khuôn khổ vận hành cụ thể hơn cho nhiệm vụ này, áp dụng đối với tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành các chủ trương, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Điểm cần nhấn mạnh là kiểm tra, giám sát không nên chỉ được nhìn nhận như công cụ kỷ luật, mà là một cơ chế học hỏi và điều chỉnh của tổ chức: phát hiện sớm những điểm bất hợp lý trong lãnh đạo, quản lý; nhận diện nguy cơ lạm dụng quyền lực; cảnh báo sai phạm trước khi hậu quả trở nên nghiêm trọng; đồng thời bảo vệ những người dám đổi mới vì lợi ích chung.

Ba là, đổi mới công tác cán bộ, tạo cơ chế vừa kiểm soát trách nhiệm vừa khuyến khích đổi mới, sáng tạo.

Trong toàn bộ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác cán bộ là khâu có tính quyết định, bởi mọi chủ trương cuối cùng đều được chuyển hóa thành kết quả thông qua con người cụ thể. Vì vậy, vấn đề không chỉ là lựa chọn cán bộ "đúng", mà còn phải tạo ra một môi trường thể chế trong đó cán bộ muốn làm, dám làm, làm đúng và chịu trách nhiệm về kết quả.

Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới đã trực tiếp đặt vấn đề này. Nghị quyết được xây dựng trên cơ sở sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 14-KL/TW năm 2021 về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Tư duy về công tác cán bộ của Đảng ngày càng nhấn mạnh vừa kiểm soát trách nhiệm vừa khuyến khích đột phá tạo hiệu quả, năng suất cao. Để nâng cao hiệu quả trong công tác này, đánh giá cán bộ cần chuyển mạnh từ đánh giá nặng về hồ sơ, quá trình và hình thức sang đánh giá dựa trên sản phẩm, hiệu quả công việc, năng lực giải quyết vấn đề, mức độ hoàn thành nhiệm vụ và trách nhiệm đối với kết quả. Đây cũng phù hợp với định hướng Đại hội XIV về đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi cán bộ là then chốt của then chốt, nhất là công tác thẩm định, đánh giá cán bộ, xây dựng đội ngũ có đức, có tài và không ngừng tự đổi mới. 

Tựu chung lại, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng dưới sự lãnh đạo của Đảng như dòng chảy tư duy liên tục, từ xác định tầm quan trọng mang tính sống còn đến xây dựng hệ thống giải pháp thể chế hóa ngày càng đồng bộ hiện nay, càng khẳng định bản lĩnh và trí tuệ của Đảng thể hiện thông qua năng lực phát hiện hạn chế, bất cập, dũng cảm, kịp thời sửa sai để tự hoàn thiện chính mình và đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn đòi hỏi. Các Nghị quyết, Chỉ thị mà Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương ban hành trong năm 2026 là minh chứng tư duy luôn đổi mới không ngừng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, làm nền tảng vững chắc để Đảng bước vào những chặng đường tiếp theo của một trăm năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

TS, Đại tá Tống Văn Khuông

TS, Trung tá Lê Mai Trang

ThS, Đại úy Nguyễn Văn Thông

 

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất