1. Bộ luật Hình sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 và đã qua 2 lần sửa đổi bổ sung vào năm 2017, năm 2025 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015). Việc ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015 đã góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đang đặt ra và bảo đảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thể chế hoá đường lối, chủ trương cải cách tư pháp của Đảng trong tình hình mới; cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), tạo ra cơ chế hữu hiệu để bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ về mọi mặt, việc hiện thực hóa đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đòi hỏi một tư duy đổi mới mang tính đột phá trong công tác lập pháp, đặc biệt là pháp luật hình sự. Thêm vào đó, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm thời gian qua cho thấy sự xuất hiện của nhiều loại tội phạm mới với phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi và nguy hiểm; vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, xử lý tội phạm, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân góp phần hiện thực hoá mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” là một yêu cầu cấp thiết.
2. Bộ Công an là đơn vị được giao chủ trì xây dựng Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) năm 2026 (sau đây gọi là Dự thảo). Trên cơ sở đổi mới tư duy lập pháp hình sự, lấy hiệu quả phòng ngừa tội phạm làm trung tâm, kết hợp hài hòa giữa tính nghiêm minh và tính nhân đạo của pháp luật hình sự, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia trong bối cảnh mới, Dự thảo được xây dựng với nhiều điểm mới nổi bật, cụ thể:
Thứ nhất, về bố cục: Dự thảo gồm 03 phần, 25 chương, 415 điều; so với BLHS năm 2015, đã bỏ 08 điều, bổ sung 14 điều mới, sửa đổi, bổ sung 301 điều, giữ nguyên 100 điều.
Thứ hai, về nội dung: Dự thảo ghi nhận nhiều điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng, cụ thể:
Một là, mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với hành vi chuẩn bị phạm tội của 12 tội danh trong đó làm rõ về người chuẩn bị phạm tội “là người chỉ đạo, tổ chức, tham gia hoặc tự mình thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều 14 đối với tội phạm…” nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn ngay từ giai đoạn chuẩn bị phạm tội;
Hai là, mở rộng phạm vi chịu TNHS của pháp nhân thương mại đối với 20 tội danh (Tội lừa dối khách hàng (Điều 181); Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (Điều 199); Tội khủng bố (Điều 289)…) góp phần bảo vệ cạnh tranh bình đẳng, phòng ngừa tình trạng lợi dụng tư cách pháp nhân để phạm tội, qua đó tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, minh bạch, ổn định, phù hợp với yêu cầu phòng, chống tội phạm và tinh thần phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới;
Ba là, bổ sung quy định về nhóm tội phạm có tổ chức: Khái niệm “Nhóm tội phạm có tổ chức” (Điều 18) và Tội thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm có tổ chức (Điều 311). Việc bổ sung thêm khái niệm và điều luật quy định về hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức tội phạm tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để phòng ngừa tội phạm một cách chủ động từ sớm, từ xa; góp phần nâng cao rõ rệt hiệu quả trong công tác phát hiện các băng nhóm, tổ chức tinh vi, đồng thời tăng cường tính răn đe và nghiêm minh khi xử lý hành vi vi phạm pháp luật có tổ chức. Ngoài ra, quy định này cũng hoàn toàn phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia mà Việt Nam là thành viên.
Bốn là, bổ sung 07 tội danh mới: gồm: (1) Tội vi phạm quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Điều 182); (2) Tội xâm phạm dữ liệu cá nhân (Điều 281); (3) Tội cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân (Điều 282); (4) Tội vi phạm quy định về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa (Điều 191); (5) Tội phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (Điều 291); (6) Tội tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (Điều 292); (7) Tội thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm có tổ chức (Điều 311). Việc bổ sung 07 tội danh này nhằm kịp thời đấu tranh với các hành vi nguy hiểm cho xã hội mới phát sinh nhất là các tội phạm liên quan đến quyền lợi người tiêu dùng, dữ liệu cá nhân, công nghệ cao, không gian mạng, tài sản mã hóa, phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt…, đồng thời tiếp tục nội luật hóa các điều ước công ước, khuyến nghị của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Năm là, xóa bỏ một số tội danh, gồm: Tội tổ chức tảo hôn (Điều 183), Tội cố ý làm lộ bí mật công tác; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác (Điều 361), Tội vô ý làm lộ bí mật công tác; tội làm mất tài liệu bí mật công tác (Điều 362) để hạn chế việc hình sự hoá các mối quan hệ gia đình, phong tục, tập quán lạc hậu và ưu tiên áp dụng pháp luật về hành chính để xử lý (Điều 183). Mặt khác, đối với hành vi làm lộ, chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu công tác chưa gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì có thể xử lý bằng các biện pháp kỷ luật, hành chính, dân sự hoặc theo pháp luật chuyên ngành tương ứng.
Sáu là, gộp một số tội danh, gồm: Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113) và Tội khủng bố (Điều 299); Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự (Điều 404) và Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự (Điều 405); Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự (Điều 406) và Tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự (Điều 407) xuất phát từ sự tương đồng về khách thể, chủ thể, hình thức lỗi và tính chất của hành vi phạm tội. Do đó, việc gộp các tội danh nói trên sẽ bảo đảm Bộ luật Hình sự được thống nhất và ngắn gọn hơn.
Bảy là, sửa đổi, bổ sung một số quy định về hình phạt tại Bộ luật Hình sự:
(1) Bỏ hình phạt tử hình ở 06 tội danh, gồm: Tội bạo loạn (Điều 96); Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 125); Tội mua bán trái phép chất ma tuý (Điều 238); Tội chống loài người (Điều 411); Tội phạm chiến tranh (Điều 412); bỏ 01 tội danh có hình phạt tử hình do nhập Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân vào Tội khủng bố (Điều 289). Như vậy, sẽ còn lại 4 tội danh áp dụng hình phạt tử hình là: Tội phản bội Tổ quốc (Điều 92); Tội giết người (Điều 106); Tội khủng bố (Điều 289); Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 235). Việc thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình như trên là một bước tiến lớn trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng nhân đạo, đề cao tính phòng ngừa và cải tạo trong xử lý tội phạm, thể hiện rõ cam kết của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân, cũng như thực thi các nghĩa vụ quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia (Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 và Công ước về quyền trẻ em năm 1989…).
(2) Nâng mức phạt tiền và mức định lượng là tiền trong cấu thành định tội của một số tội danh.
Tám là, mở rộng áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với 10 tội danh phù hợp với xu hướng quốc tế khuyến khích phát triển các biện pháp không giam giữ (Quy tắc Tokyo của Liên hợp quốc). Mặt khác, việc mở rộng áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ có tác động tích cực đến người phạm tội, hạn chế ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập, quan hệ gia đình, thể hiện chính sách nhân văn, nhân đạo của Bộ luật Hình sự.
Ngoài các nội dung nêu trên, Dự thảo còn có nhiều bổ sung khác như: Các tình tiết giảm nhẹ TNHS; gây thiệt hại khi thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, phòng chống tội phạm (Điều 28); chế định tạm hoãn truy cứu TNHS (Điều 30)… sửa đổi các quy định để bảo đảm đồng bộ, thống nhất, khả thi và kỹ thuật lập pháp.
3. Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) năm 2026 đánh dấu một bước ngoặt mang tính lịch sử, thể hiện sự bứt phá mạnh mẽ trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách hình sự của Nhà nước ta. Các sửa đổi, bổ sung trong Dự thảo không chỉ dừng lại ở công cụ răn đe, trừng trị mang tính truyền thống, mà đã chuyển dịch sâu sắc sang tư duy quản trị quốc gia hiện đại với mục tiêu tối thượng là kiến tạo một nền tư pháp nhân văn, công bằng, bảo vệ quyền con người, đồng thời tạo không gian an toàn, thông thoáng kích thích các động lực tăng trưởng mới của đất nước trong kỷ nguyên số và hội nhập toàn cầu./.
ThS. Thiếu tá Nguyễn Thị Vân
K4, T03