Chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam được coi là sự kiện nổi bật, có tác động, ảnh hưởng lớn đến tình hình quân sự, chính trị thế giới nhiều thập kỷ. Sự tác động của chiến thắng Điện Biên Phủ đối với các nước thực dân, đế quốc trong thế kỷ XX được thấy rõ trên nhiều phương diện: gây ảnh hưởng sâu sắc tới tâm lý, tinh thần của các nước phương Tây; làm thất bại kế hoạch quân sự của thực dân Pháp; phản biện lại tư duy chỉ cần đối phó với “hai cuộc chiến tranh” của Mỹ trên thế giới; buộc giới chiến lược Mỹ phải nhanh chóng xây dựng và củng cố hệ thống đồng minh tại Đông Nam Á.
Ngày 7-5-1954, toàn bộ Tập đoàn cứ điểm của địch ở Điện Biên Phủ bị tiêu diệt. Lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries, kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp oanh liệt đầy hy sinh, gian khổ kéo dài suốt 9 năm. Ảnh tư liệu
Về tầm vóc của chiến thắng Điện Biên Phủ, theo đánh giá của nhà nghiên cứu người Anh Peter Macdonald: “So với những trận vây hãm khác (như người Mỹ có trận ở Bantran 66 ngày, Đức vây Stalingrad 70 ngày, quân Anh giữ Toobruc 24 ngày, rồi 1 triệu quân Liên Xô vây lại 330.000 quân Đức ở Stalingrad...) thì trận Điện Biên Phủ với 50.000 Việt minh vây đánh 16.000 quân Pháp, không phải là có thứ hạng gì. Điều làm cho nó nổi tiếng chính là ở cách đánh, ở triến trình phát triển của cuộc chiến đấu, cũng như kết cục và những hệ quả mà nó dẫn đến. Tất cả những cái đó đã làm trận chiến đấu ở Điện Biên Phủ trở thành một trong những trận đánh quyết định của mọi thời đại và đưa tên tuổi của Võ Nguyên Giáp vào sử sách”3.
Sự kiện Điện Biên Phủ đưa đến thất bại của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã tạo ra cơn chấn động lớn đối với Pháp, Mỹ và nhiều nước phương Tây khác. Đúng như tờ báo “Chiến đấu” ra ngày 8-5-1954 viết: “Trên toàn thế giới, việc thất thủ Điện Biên Phủ xuất hiện như một sự kiện hàng đầu trong những năm gần đây, làm cho đồng minh phương Tây buồn rầu và những nước cộng sản vui mừng” 4.
1. Chiến thắng Điện Biên Phủ tác động sâu sắc đến tâm lý và tinh thần đối với các nước phương Tây
Chiến thắng Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là mốc son chói lọi của dân tộc Việt Nam mà còn gây chấn động mạnh mẽ đối với các nước phương Tây, làm thay đổi sâu sắc tâm lý, tinh thần và cách nhìn của họ về phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.
Thứ nhất, Điện Biên Phủ là đòn đánh về mặt tâm lý và tinh thần đối với nước Pháp.
Sự thất thủ của Điện Biên Phủ gây nên sóng gió cho chính trường và xáo trộn trong xã hội Pháp. Tướng Henri Navarre đã chua chát tổng kết tình hình chính trị của nước Pháp như “Ở Pháp, không khí tinh thần thật khủng khiếp: thờ ơ, lạnh nhạt nếu không nói là thù ghét, sự phản bội công khai phơi bày, vụ buôn lậu tiền bạc, vụ bê bối của các tướng lĩnh...”. “Đối với các nhà chính trị và quân sự, cuộc chiến Đông Dương bây giờ chỉ còn là một việc phải thanh toán đi cho rồi” 5. Tại Genève: “Hội nghị quốc tế về Đông Dương khai mạc. Đoàn Pháp do Ngoại trưởng Bidault dẫn đầu mặc toàn lễ phục màu đen” 6...
Làn sóng đấu tranh chống chiến tranh ngay tại nước Pháp, phản đối Chỉnh phủ Chính phủ Pháp (đứng đầu là bộ ba Joseph Laniel- Thủ tướng, Georges Bidault- Bộ trưởng Ngoại giao và René Pleven- Bộ trưởng Quốc phòng), đòi ký kết Hiệp định Genève, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương. Ngay tại Quốc hội Pháp, ngoài các nghị sĩ cộng sản kiên quyết phản đối chiến tranh ở Đông Dương, còn có một bộ phận cấp tiến trong Đảng Xã hội do Mendès France lãnh đạo và nhóm Dân chủ xã hội đề kháng liên minh UDSR do Francois Mitterand đứng đầu cũng kiên quyết phản đối chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương. Kết quả của các phong trào đấu tranh đòi lập lại hoà bình ở Đông Dương thể hiện bằng thắng lợi trong nghị trường, tình trạng khủng hoảng của nền chính trị Pháp ngày càng thêm sâu sắc.
Thậm chí nhiều thập kỷ sau, sự kiện Điện Biên Phủ vẫn là nỗi ám ảnh của nước Pháp. Người ta dễ dàng nhận thấy điều đó qua hồi ký của các chính trị gia, các tướng lĩnh và qua các công trình nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước Pháp. Thủ tướng J.Laniel đã phải thốt lên: “Trong lịch sử của mỗi dân tộc đều có những sự kiện có tính chất quyết định. Những tên gắn liền với chúng, cả những ngày tháng cũng thế, chứa đựng một ý nghĩa vượt qua bản thân các sự kiện đó. Sáng sủa hay đen tối, trước mắt mọi người, những sự kiện đó đều tượng trưng cho số phận tốt hay xấu của nước nhà… Điện Biên Phủ là một trong những cái tên như thế” 7 (trong cuốn sách “Tấm thảm kịch Đông Dương”, xuất bản tại Paris năm 1957). Bảy năm sau sự kiện Điện Biên Phủ, ký giả người pháp J.Roa, trong cuốn sách Trận Điện Biên Phủ ghi nhận: “Trong toàn thế giới, trận Oateclo cũng ít tiếng vang hơn… Đó là một trong những thất bại lớn của phương Tây, báo hiệu sự tan rã của các thuộc địa và sự cáo chung của một nền cộng hoà. Tiếng sấm của sự kiện Điện Biên Phủ vẫn còn âm vang” 8. Cũng với nhận định như thế, Bernard Fall, nhà sử học Mỹ gốc Pháp viết: “Chúng ta không có quyền được quên cuộc chiến này. Dù ta muốn hay không muốn, cuộc chiến tranh đó vẫn còn ảnh hưởng đến chúng ta nhiều chục năm nữa” 9.
Thứ hai, Điện Biên Phủ khiến nước Mỹ bất ngờ, bối rối.
Khi Pháp thất thủ ở Điện Biên Phủ, việc đầu tiên của Tổng thống Eisenhower là triệu tập ngay Hội đồng an ninh quốc gia vào 8h30 phút ngày hôm sau. Cuộc triệu tập này đã vi phạm cả tính chất thiêng liêng của luật nghỉ cuối tuần tại Mỹ. Các Uỷ viên trong cơ quan quân sự tối cao tìm cách tháo gỡ bằng cách điều chỉnh chiến lược can thiệp của Mỹ. Một mặt đánh giá sự thất thủ ở Điện Biên Phủ không ảnh hưởng gì nghiêm trọng đến tình hình quân sự ở Đông Dương, mặt khác lại nhận định: sự tổn thất ở Điện Biên Phủ đã rơi trúng vào những đơn vị chiến đấu khá nhất và cơ động nhất, hơn nữa trận đánh lớn ở vùng núi rừng không hề làm giảm bớt sự uy hiếp đối với vùng sống còn ở đồng bằng...
Chính quyền của Eisenhower cố gắng ngợi ca sự hy sinh của quân lính Pháp ở Điện Biên Phủ như một tinh thần chiến đấu cao cả, tượng trưng cho ý chí chiến đấu của thế giới tự do. Đằng sau sự ngợi ca hình thức đó là sự choáng váng của đế quốc Mỹ. Bởi nước Mỹ đã tốn bao công sức, vật chất để cùng Pháp âm mưu xây dựng nên kế hoạch Navarre... phút chốc bị tiêu tan chính nơi có thể hy vọng nhất. Nước Mỹ thực sự bị tác động mạnh mẽ bởi các thảm kịch ở Điện Biên Phủ, giới cầm quyền Mỹ thực sự bị lôi cuốn vào “sự kiện khủng khiếp” này.
Có thể khẳng định rằng, sự thất thủ từ căn cứ quân sự vững chắc của tập đoàn đế quốc Pháp - Mỹ đã có tác động sâu sắc đến đời sống tâm lý và tinh thần ngay tại các nước này và cả các nước đồng minh của họ. Đây cũng chính là bài học có giá trị lịch sử và hiện tại cho chủ nghĩa cường quyền trên thế giới đang lợi dụng sức mạnh quân sự để nhằm mục đích đe doạ và khống chế thế giới.
2. Điện Biên Phủ làm thất bại kế hoạch quân sự của thực dân Pháp
Thứ nhất, cứ điểm phòng ngự Điện Biên Phủ bị thất thủ, dẫn đến đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống thuộc địa Pháp
Hệ thống thuộc địa hoàn chỉnh của Pháp đã bị phá vỡ một khâu quan trọng, tất yếu sẽ xảy ra phản ứng dây chuyền, người Pháp phải thú nhận: “Nếu để mất Đông Dương, tất yếu sẽ nhanh chóng kéo theo một cuộc vùng dậy ở Bắc Phi”10. Năm 1953, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ John Foster Dulles đã nói: “Nếu Đông Dương thất thủ thì sẽ có phản ứng dây chuyền khắp Viễn Đông và Đông Nam Á”. Raoul Salan, Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương có nhận xét tương tự: “Chính vì mất Đông Dương mà nền móng đế quốc Pháp bị sụp đổ”. Và khi tiếng kèn chiến thắng Điện Biên Phủ cất lên thì cũng có nghĩa “tiếng chuông báo giờ chết của chủ nghĩa thực dân Pháp không những ở Việt Nam mà cả ở bộ phận còn lại của khối thuộc địa của nó” 11 đã bắt đầu ngân vang.
Để xoa dịu dư luận thế giới và đối phó với cuộc đấu tranh của quần chúng đang dâng lên ở các thuộc địa cũng như các phong trào phản đối ngay chính trong lòng nước Pháp, Chính phủ Pháp buộc phải trao trả độc lập cho Tuynidi và Maroc, lập ra “Khối cộng đồng” ở Tây Phi rồi lại phải trao trả độc lập cho các nước đó. Khi Hội nghị Genève diễn ra, Pháp cố gắng cầu viện Mỹ, vận động Mỹ cùng đồng minh can thiệp vào Đông Dương. Từ ngày 3 đến 9-6-1954, năm nước Mỹ, Anh, Pháp, Australia, New Zealand họp tại Washington, tại hội nghị Pháp yêu cầu các nước giúp đỡ về không quân và lục quân để có thể chống lại sức mạnh quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mà phía Pháp dự tính sẽ gia tăng trong khoảng giữa tháng 6 năm 1954 nhưng không nước nào đáp ứng đề nghị này.
Thứ hai, Điện Biên Phủ làm đảo lộn chiến lược quân sự của nước Pháp tại chiến trường Đông Dương, buộc nước Pháp phải rút khỏi đây.
Tù binh Pháp tại Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu: TTXVN
Báo cáo của tướng Ely, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp về tình hình Đông Dương đề cập đến việc quân viễn chinh đã mất ở Điện Biên Phủ “quả đấm tấn công” các mũi nhọn tinh nhuệ nhất, các đồn lẻ loi đang làm mồi cho các cuộc tấn công, nhiều vị trí đã mất, các đồn khác đang “nghẹt thở”. Quân Pháp trên toàn bộ chiến trường Đông Dương rơi vào tình thế vô cùng khó khăn, Pháp phải từ bỏ lập trường chỉ giải quyết vấn đề quân sự. Ở đồng bằng Bắc Bộ, bố trí của Pháp rất phân tán, nguy cơ dân chúng nổi dậy, cần phải có những cố gắng lớn để cứu quân đội viễn chinh. Việc thu hẹp phạm vi phòng ngự ở đồng bằng là không thể tránh khỏi, Pháp phải tránh tạo nên những tổn thất lớn trong khi đang diễn ra Hội nghị Genève. Thậm chí ngày 26-5-1954, Thủ tướng Pháp đã điện cho Navarre cho phép Navarre được quyết định rút khỏi Hà Nội nếu tình thế bắt buộc, tránh để Hà Nội trở thành Điện Biên Phủ thứ hai.
Trên thực tế, thất bại ở Điện Biên Phủ đã làm cho kế hoạch Navarre phá sản, dẫn tới việc ký Hiệp định Genève, kết thúc chiến tranh, buộc quân đội Pháp phải rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, chấm dứt vĩnh viễn sự có mặt của người Pháp ở khu vực này. Nhiều tướng lĩnh ở Điện Biên Phủ cũng đã phải thừa nhận sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ là sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân, ngay binh lính Pháp ở Điện Biên Phủ, họ cũng thấy được tính chất phi nghĩa, sự mất dần phương hướng và ngày càng rệu rã. Báo Người quan sát ra ngày 13-5-1954, viết: “Binh lính Pháp không thể chiến đấu được nữa, họ đã bị kiệt sức trong cuộc chiến đấu… Nếu người ra nói đến sự thất thủ của Điện Biên Phủ thì phải gọi đúng tên của nó: Đó là một sự đầu hàng”12. Jean Pouget - tùy viên của tướng Henri Navarre, hai mươi năm sau Điện Biên Phủ, cho rằng sự sụp đổ của người Pháp tại Điện Biên Phủ đánh dấu sự kết thúc của một thời kỳ thực dân và bắt đầu kỷ nguyên của độc lập tự do, không cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nào ở Châu Á, Châu Phi hay Châu Mỹ mà không đề cập đến chiến thắng của tướng Giáp, Điện Biên Phủ đã trở thành cột mốc của giải phóng dân tộc.
3. Điện Biên Phủ làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của nước Mỹ trong thế kỷ XX
Thứ nhất, Điện Biên Phủ phản biện lại tư duy đối phó với “hai cuộc chiến tranh” của Mỹ trên thế giới.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trật tự hai cực Xô - Mỹ ra đời. Nước Mỹ áp dụng “chiến lược toàn cầu”, với mong muốn tạo ra ở những khu vực xa nước Mỹ một trật tự có thể kiểm soát được, sẵn sàng đáp ứng được các nhu cầu về lợi ích của họ. Tuy duy về đối phó với “hai cuộc chiến tranh” (một chống Liên Xô, một chống Trung Quốc) được phản ánh trong chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ. Đông Dương không phải là điểm đe doạ vị thế quốc tế của Mỹ. Vì vậy các chiến lược như “ngăn chặn - kiềm chế” (thời kỳ Truman), chiến lược “trả đũa ồ ạt” (thời kỳ Eisenhower), đều tập trung chạy đua vũ trang và vũ khí hạt nhân, coi đây là công cụ để Mỹ đối phó với Liên Xô và Trung Quốc chứ không phải để đối phó với phong trào giải phóng dân tộc như tại Việt Nam.
Tổng thống Eisenhower từng cho rằng nước Mỹ viện trợ cho cuộc chiến tranh Đông Dương không phải là viện trợ cho một chương trình không có giá trị gì. Việc can dự vào chiến tranh Đông Dương sẽ giúp cho Mỹ xác lập thành công vị trí của mình tại Đông Nam Á và tin tưởng vào sức mạnh Mỹ trên toàn cầu. Bằng cách gia tăng ngân sách chiến tranh tại khu vực Đông Dương, Mỹ cho rằng họ là người nắm thế chủ động. Vì vậy, nước Mỹ đã chủ quan với vấn đề chiến tranh giải phóng dân tộc ở Đông Dương nói riêng và trên thế giới nói chung. Đây là “lỗ hổng” căn bản trong chiến lược toàn cầu của Mỹ trong thế kỷ XX.
Xuất phát từ phong trào giải phóng dân tộc tại một nước thuộc địa cũ, do một đảng Cộng sản lãnh đạo, Điện Biên Phủ là đòn giáng đầu tiên vào “chiến lược toàn cầu” khiến giới quân sự Mỹ nhận ra tầm sâu rộng của thất bại tưởng chừng chỉ có tính khu vực và gián tiếp với nước Mỹ. Những tính toán trước đây bị đảo lộn, khu vực Á, Phi, Mỹ Latinh không còn là sự bỏ ngỏ, sự lơ là trong kế hoạch toàn cầu của Mỹ. Mỹ buộc phải điều chỉnh chiến lược, chiến thuật, lực lượng và sử dụng các loại vũ khí thích hợp để đối phó với các cuộc chiến tranh nhỏ nơi Mỹ đang can dự. Tổng thống Mỹ John F.Kennedy đã phải công nhận: “Chúng ta thấy rằng cách mạng giải phóng dân tộc là một sự kiện cơ bản của thời đại chúng ta. Sức mạnh to lớn nhất trên thế giới, đó là lòng khao khát vương lên độc lập dân tộc. Ngày nay cuộc chiến đấu không phải diễn ra ở châu Âu mà là ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh”13.
Việc điều chỉnh chiến lược của Mỹ tiếp tục được phản ánh trong chính sách của chính quyền John Kennedy, khi Mỹ phải bổ sung thêm chiến lược “diễn biến hoà bình” bên cạnh chiến lược toàn cầu, thực hiện chính sách hai mặt “cái gậy và củ cà rốt” đối với Liên Xô và chĩa mũi nhọn vào phong trào giải phóng dân tộc. Về quân sự, Mỹ chuyển sang chiến lược “phản ứng linh hoạt”, chủ trương dùng vũ khí hạt nhân làm cái “mộc che đỡ” và dùng vũ khí thông thường làm “lưỡi kiếm” tiến công vào phong trào giải phóng dân tộc. Hạt nhân của chiến lược mới này là chiến tranh “chống nổi dậy” có nghĩa là việc bảo vệ các thuộc địa, chống lại phong trào tranh giải phóng dân tộc được Mỹ coi trọng. Đặc biệt, giới quân sự Mỹ quan tâm đến việc ứng phó hiệu quả với chiến tranh du kích tại thuộc địa. Đây là điểm bổ sung căn bản của “chiến lược toàn cầu”, làm thay đổi tính chất của chủ nghĩa thực dân cũ, thay thế bằng chủ nghĩa thực dân mới, Mỹ tiếp tục chọn Việt Nam làm nơi thí điểm áp dụng chiến lược mới này.
Thứ hai, Điện Biên Phủ khiến nước Mỹ phải nhanh chóng xây dựng, củng cố hệ thống đồng minh tại khu vực Đông Nam Á
Giữa thập niên 1950 cả chính giới và báo giới Mỹ, phương Tây đều cố ý thổi phồng nguy cơ cộng sản, dùng thuyết Domino để hù doạ rằng, nếu để mất Việt Nam vào tay cộng sản thì lần lượt các nước Đông Nam Á sẽ sụp đổ, thậm chí đe doạ đến Nhật Bản, Ấn Độ, Australia… Điện Biên Phủ thất thủ, một nửa nước Việt Nam gia nhập hệ thống xã hội chủ nghĩa buộc Mỹ và các nước phương Tây phải nghĩ ngay đến việc triển khai tại Đông Nam Á vành đai chiến lược để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản từ Việt Nam có thể lan ra.
Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles cảnh báo: “Cộng sản đã thống trị một phần ba thế giới” và những gì đang diễn ra ở Đông Dương đã cho thấy một “bằng chứng về việc cộng sản đang cố bành trướng hơn nữa”14. Tổng thống Eisenhower triệu tập khẩn cấp Hội đồng An ninh Quốc gia bàn về tình hình Đông Nam Á và Đông Dương ngay ngày 8-5-1954, với tư tưởng bao trùm rằng việc thất thủ của Pháp ở Điện Biên Phủ phải được coi như một tiền đề cho việc mất cả Đông Nam Á, vì vậy cần phải có một hệ thống phòng thủ tập thể để “đảm bảo hòa bình, an ninh và tự do của Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương”.
Sau một thời gian ráo riết chuẩn bị, vận động, lôi kéo, ngày 8-9-1954 tại Manila - Philippines, các nước Mỹ, Anh, Pháp, Australia, New Zealand, Pakistan, Philippines, Thái Lan, đã ký kết Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á, chính thức thành lập khối quân sự SEATO. Với quy định lỏng lẻo và mục đích hoạt động không đáp ứng được tham vọng của các nước thành viên khi tham gia cho nên khác với NATO, SEATO không phát triển mạnh mẽ sau đó mà cùng những diễn biến mới của Chiến tranh lạnh trong thập niên 60, 70 và mâu thuẫn nảy sinh giữa các quốc gia thành viên, Pakistan rút khỏi Hiệp ước năm 1968, Pháp rút khỏi SEATO năm 1972 và SEATO tuyên bố giải tán năm 1977.
Bên cạnh việc thiết lập và duy trì liên minh quân sự SEATO, Mỹ tiếp tục xây dựng Hiệp ước Liên minh phòng thủ tại khu vực Tây Á bao gồm Mỹ, Iraq, thổ Nhĩ Kỳ (CENTO, 2-1955) và mở rộng kết nạp thêm Anh, Pakistan, Iran (1956). CENTO nằm dưới sự bảo trợ của Mỹ. Từ đây, “vành đai chiến lược” của Mỹ mở rộng từ Tây sang Đông, với các liên minh quân sự đa phương và song phương đan cài nhau, kiểm soát không gian chiến lược từ Trung Đông (Tây Á), Nam Á (Pakistan), Đông Nam Á (SEATO, Thái Lan, Philippines), Đông Bắc Á (Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan), Nam Thái Bình Dương (Australia). Mỹ hy vọng với “vành đai chiến lược” này sẽ hoàn toàn chủ động từ châu Á xuống đến Nam Thái Bình Dương, kiểm soát chặt chẽ ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, suốt trong thập kỷ 60,70 của thế kỷ XX, tại cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, hệ thống “vành đai chiến lược” của Mỹ liên tiếp mất chủ động, không thành công trong việc ngăn chặn làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc tại Đông Nam Á. Mỹ đã phải nhận thất bại tại Việt Nam và buộc phải rút quân về nước.
4. Kết luận
Chiến thắng Điện Biên Phủ là mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới, không chỉ giúp Việt Nam thoát khỏi áp bức của thực dân Pháp mà còn mở ra con đường để giành độc lập cho cả Đông Dương và các nước thuộc địa ở châu Phi. Điện Biên Phủ đã tác động đến quan hệ quốc tế, đến các cường quốc trên thế giới trong đó có Mỹ, Pháp, giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp được Mỹ giúp sức, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trên lĩnh vực ngoại giao, buộc các thế lực hiếu chiến phải ký Hiệp định Genève, lập lại hoà bình ở Đông Dương trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia.
Đại tá, TS Tống Văn Khuông, Phó Giám đốc T03
Trần Thị Thảo, T03
Chú thích tài liệu tham khảo:
3,13 Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (2014), Chiến thắng Điện Biên Phủ - Sức mạnh Việt Nam và tầm vóc thời đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.20, 536.
4,8,9,10,11 Đỗ Thiện, Đinh Kim Khánh, 1984, Tiếng sấm Điện Biên Phủ - Dư luận thế giới về chiến dịch Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr.284, 284, 285, 333, 334.
5,6 Xem: Vũ Dương Ninh (2011), Bối cảnh quốc tế của ba bản Hiệp định trong hai cuộc kháng chiến cứu nước (1945 - 1975), https://his.ussh.vnu.edu.vn, ngày 10/8/2023.
7 Xem: Lê Quang Lạng, Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ qua dư luận thế giới, https://tapchicongsan.org.vn, ngày 06/5/2009.
12 Xem: Hà Đăng, Điện Biên Phủ, từ góc nhìn của kẻ bại trận, https://nhandan.vn, ngày 05/05/2009.
14 Xem: Lý Tường Vân, Một lịch sử quan hệ quốc tế mới ở Đông Nam Á trong những thập niên 1950, 1960: tác động từ cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam (1946-1954), https://his.ussh.vnu.edu.vn, ngày 11/8/2023.