Dự án Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi) được xây dựng nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đồng thời khắc phục những khó khăn, vướng mắc phát sinh sau thời gian thi hành Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tình hình mới.
1. Sự cần thiết sửa đổi Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự
Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động của các Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, xử lý tội phạm, bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
Tuy nhiên, qua 10 năm thi hành, cùng với những thay đổi lớn trong tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tổ chức chính quyền địa phương và yêu cầu cải cách tư pháp, một số quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Đặc biệt, việc sắp xếp tổ chức bộ máy Công an nhân dân theo hướng tinh, gọn, mạnh, không tổ chức Công an cấp huyện, yêu cầu phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các cơ quan trong hoạt động điều tra, cùng với yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tổ chức cơ quan điều tra hình sự.
Việc sửa đổi Luật đồng thời nhằm bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất giữa pháp luật về tổ chức Cơ quan điều tra với Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định pháp luật có liên quan; qua đó tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tổ chức, phân công và kiểm soát hoạt động điều tra trong tình hình mới.
2. Những nội dung mới của Dự thảo Luật
Dự thảo Luật gồm 08 chương, 52 điều, giảm 21 điều so với Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015; trong đó bỏ 01 chương với 24 điều, bổ sung 02 điều, giữ nguyên 07 điều và sửa đổi, bổ sung 43 điều.
Dự thảo tập trung quy định về nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự; tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Điều tra viên và các chức danh khác trong điều tra hình sự; quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát trong hoạt động điều tra hình sự; bảo đảm điều kiện cho hoạt động điều tra hình sự và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Thứ nhất, hoàn thiện quy định về hệ thống Cơ quan điều tra
Một trong những thay đổi quan trọng của dự thảo là tổ chức lại hệ thống Cơ quan điều tra phù hợp với mô hình tổ chức mới.
Theo Điều 3 và Điều 4 dự thảo, hệ thống Cơ quan điều tra của Công an nhân dân được tổ chức ở cấp Bộ và cấp tỉnh, không còn Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện. Bộ trưởng Bộ Công an được giao quy định tổ chức bộ máy các Cơ quan điều tra thuộc Công an nhân dân trên cơ sở cơ cấu tổ chức của Bộ Công an.
Đáng chú ý, dự thảo đề xuất không tiếp tục tổ chức Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đối với một số nhóm tội phạm trước đây thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, dự thảo chuyển thẩm quyền điều tra sang Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an; tương tự, thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương được chuyển sang Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng. Nội dung này được thể hiện tại các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an và Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng, trong đó dự thảo bổ sung thẩm quyền điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp trong những trường hợp luật định.
Bên cạnh đó, Điều 13 và Điều 14 dự thảo hoàn thiện nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an và Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh; trong đó Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an được đề xuất trực tiếp điều tra một số vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quan nhiều tỉnh, thành phố hoặc nhiều quốc gia thuộc thẩm quyền cấp tỉnh khi xét thấy cần thiết.
Đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra, dự thảo điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an và Công an cấp tỉnh, đồng thời bổ sung thẩm quyền của cấp tỉnh đối với những vụ án trước đây thuộc thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện. Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đồng thời được tăng cường thẩm quyền hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra Công an cấp xã và các cơ quan của lực lượng Cảnh sát nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Thứ hai, điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và Công an cấp xã
Dự thảo sửa đổi tên gọi và nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư, Cảnh sát biển, các cơ quan thuộc Công an nhân dân và Quân đội nhân dân, nhằm phù hợp với tổ chức bộ máy mới.
Đối với Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư, dự thảo định hướng thu hẹp phạm vi điều tra, theo hướng giữ lại thẩm quyền khởi tố vụ án và tiến hành một số hoạt động điều tra trong thời hạn 07 ngày, sau đó chuyển vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Đây là sự điều chỉnh xuất phát từ thực tiễn các lực lượng này chủ yếu thực hiện hoạt động điều tra ban đầu, trong khi việc điều tra toàn diện vụ án đòi hỏi năng lực chuyên sâu của Cơ quan điều tra.
Đối với Công an cấp xã, dự thảo có bước hoàn thiện đáng chú ý. Theo các quy định liên quan đến nhiệm vụ của Cơ quan Cảnh sát điều tra và Công an cấp xã, lực lượng Công an cấp xã được xác định rõ trách nhiệm trong tiếp nhận, phân loại, xử lý thông tin về hành vi vi phạm pháp luật để xác định nguồn tin về tội phạm; đồng thời chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp trên.
Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy vai trò của Công an cấp xã trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ngay từ địa bàn cơ sở, phù hợp với yêu cầu “bám cơ sở, nắm tình hình từ cơ sở”, đồng thời bảo đảm sự thống nhất về chỉ đạo nghiệp vụ và kiểm soát thẩm quyền điều tra.
Thứ ba, hoàn thiện quy định về Điều tra viên và cơ chế ủy quyền trong hoạt động điều tra
Dự thảo tiếp tục quy định 03 ngạch Điều tra viên: Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp và Điều tra viên cao cấp tại Điều 34; đồng thời quy định tiêu chuẩn chung của Điều tra viên tại Điều 35, qua đó xác định những yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ và kinh nghiệm pháp luật đối với chức danh này.
Một nội dung đáng chú ý là hoàn thiện cơ chế ủy quyền giữa Thủ trưởng và Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Theo Điều 37 dự thảo, Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thể ủy quyền cho một Phó Thủ trưởng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng; Phó Thủ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng về nhiệm vụ được ủy quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình.
Đặc biệt, Điều 39 dự thảo quy định riêng về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã. Khi được Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh ủy quyền, phân công, các Điều tra viên này có thể trực tiếp tổ chức, chỉ đạo việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự được ủy quyền; đồng thời thực hiện một số thẩm quyền như phân công, thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra; kiểm tra hoạt động điều tra; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố và một số nhiệm vụ tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Quy định này có ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh không còn tổ chức Công an cấp huyện, tạo cơ sở pháp lý để tăng cường năng lực giải quyết vụ việc ngay tại cơ sở, đồng thời đặt hoạt động này trong cơ chế ủy quyền, phân công và kiểm tra của Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh, qua đó gắn thẩm quyền với trách nhiệm và kiểm soát quyền lực.
Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong điều tra hình sự
Một điểm mới của dự thảo là bổ sung nguyên tắc và các quy định liên quan đến ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong tổ chức, hoạt động điều tra hình sự. Nội dung này được đặt trong tổng thể các quy định về nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự và là một trong những chính sách được cơ quan thẩm tra đánh giá gắn với yêu cầu đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số sẽ góp phần nâng cao năng lực tiếp nhận, quản lý, khai thác thông tin, dữ liệu; hỗ trợ hoạt động xác minh, điều tra; tăng cường khả năng phối hợp giữa các cơ quan và nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh, xử lý tội phạm.
Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ trong điều tra phải gắn với yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật điều tra và quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan. Đây cũng là yêu cầu đặt ra trong quá trình xây dựng cơ chế điều tra hiện đại, trong đó công nghệ phải đi đôi với trách nhiệm, thẩm quyền và kiểm soát việc khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu.
Việc sửa đổi Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự có ý nghĩa quan trọng cả về chính trị, pháp lý và thực tiễn. Dự án Luật không chỉ nhằm điều chỉnh tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các Cơ quan điều tra phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới mà còn hướng tới xây dựng cơ chế điều tra tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.
Ths. Thiếu tá Trần Thị Lan
Khoa Luật, T03