Lịch sử quan hệ quốc tế từng chứng kiến không ít những cuộc đối đầu nảy lửa, nhưng hiếm có cặp quan hệ nào mang nhiều duyên nợ và biến chuyển diệu kỳ như Việt Nam và Cộng hòa Pháp. Đơn vị xây dựng chùm bài viết (05 kỳ) với tựa đề: QUAN HỆ VIỆT NAM - CỘNG HÒA PHÁP: TỪ CỰU THÙ LỊCH SỬ ĐẾN ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN.
Lịch sử quan hệ quốc tế từng chứng kiến không ít những cuộc đối đầu nảy lửa, nhưng hiếm có cặp quan hệ nào mang nhiều duyên nợ và biến chuyển diệu kỳ như Việt Nam và Cộng hòa Pháp. Từ những đau thương của cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài gần một thế kỷ, đến tiếng súng chấn động địa cầu tại lòng chảo Điện Biên Phủ năm 1954, hai dân tộc tưởng chừng đã bị ngăn cách vĩnh viễn bởi một hố sâu lịch sử không thể lấp bằng.

Lính Pháp và các trang thiết bị vừa đổ bộ xuống lòng chảo Điện Biên
Thế nhưng, vượt lên trên những vết thương của quá khứ, bằng trí tuệ ngoại giao, tinh thần nhân văn cao cả và tầm nhìn chiến lược của các thế hệ lãnh đạo hai nước, Việt Nam và Pháp đã kiến tạo nên một hành trình hòa giải dân tộc vô cùng ấn tượng. Cột mốc lịch sử tháng 10/2024 - khi hai nước chính thức nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện nhân chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp của Lãnh đạo cấp cao Việt Nam - đã đưa Pháp trở thành quốc gia đầu tiên trong Liên minh Châu Âu (EU) xác lập cấp độ quan hệ ngoại giao cao nhất này với Việt Nam.
Nhìn lại chặng đường hơn 70 năm qua (1954 - 2024), mối quan hệ Việt - Pháp không chỉ là câu chuyện của những hiệp định hay con số thương mại, mà là minh chứng sinh động cho việc: Lòng tin và sự tôn trọng lẫn nhau hoàn toàn có thể biến những cựu thù lịch sử thành những người đồng hành chiến lược tin cậy nhất.
Chùm bài viết 5 kỳ do Ban Biên tập thực hiện sẽ đưa quý độc giả đi qua từng lát cắt lịch sử, giải mã những bước chuyển tầm nhìn và phác họa nội hàm hợp tác phong phú giữa hai quốc gia:
Kỳ 1: Vượt qua hố sâu lịch sử - Từ “bản án” Điện Biên Phủ đến tư tưởng "Gác lại quá khứ" (Hành trình hóa giải hận thù và đặt những gạch nối ngoại giao đầu tiên giai đoạn 1954 - 1973).
Kỳ 2: Bước chuyển tầm nhìn - Tạo dựng cơ sở cho mối quan hệ chiến lược (1986 - 2013) (Pháp - cầu nối mở cửa cho Việt Nam thời kỳ Đổi mới và sự hình thành khung khổ Đối tác Chiến lược).
Kỳ 3: Đối tác Chiến lược Toàn diện (2024) - Đỉnh cao của tin cậy và tầm nhìn đồng dạng (Tầm vóc mới của mối quan hệ trong cục diện địa chính trị đa cực và biến động).
Kỳ 4: Kinh tế, khoa học và bảo vệ hành tinh - Những trụ cột vững chắc cho tương lai sáng lạn (Động lực từ hợp tác EVFTA, JETP, chuyển đổi xanh và công nghệ mũi nhọn).
Kỳ 5: Ngoại giao nhân dân và dấu ấn văn hóa - Sợi dây bền chặt nhất (Giao thoa văn hóa, hợp tác y tế - giáo dục và vai trò của cộng đồng 300.000 kiều bào tại Pháp).
Trang thông tin điện tử - Học viện Chính trị Công an nhân dân trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
KỲ 1: VƯỢT QUA HỐ SÂU LỊCH SỬ – TỪ “BẢN ÁN” ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐẾN TƯ TƯỞNG “GÁC LẠI QUÁ KHỨ”
Lịch sử quan hệ quốc tế hiếm chứng kiến một hành trình nào đặc biệt như mối duyên nợ giữa Việt Nam và Cộng hòa Pháp. Từ những đau thương của một cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài gần một thế kỷ, đến tiếng súng chấn động địa cầu tại lòng chảo Điện Biên Phủ, hai dân tộc tưởng chừng đã bị ngăn cách bởi những hố sâu không thể lấp bằng.
Nhưng chính từ trong tro tàn của chiến tranh, bằng trí tuệ, tầm nhìn chiến lược và tinh thần nhân văn cao cả, Việt Nam và Pháp đã từng bước bước qua quá khứ, đặt những viên gạch đầu tiên cho một hành trình hòa giải dân tộc lịch sử trong thế kỷ XX. Ở phía Việt Nam, đó là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người luôn phân biệt chính quyền thực dân với nhân dân Pháp và chưa bao giờ đóng cánh cửa đối thoại với một nước Pháp tôn trọng độc lập của Việt Nam. Ở phía Pháp, đó là sự thức tỉnh của một thế hệ lãnh đạo, mà tiêu biểu là Tổng thống Charles de Gaulle, dám nói lên tiếng nói khác với các đồng minh của mình về cuộc chiến ở Việt Nam. Hai dòng chảy ấy gặp nhau ở Paris, nơi diễn ra cuộc đàm phán hòa bình dài nhất trong lịch sử ngoại giao thế giới và dẫn đến ngày 12/4/1973, khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ, chỉ chưa đầy ba tháng sau Hiệp định Paris. Kỳ 1 của chùm bài kể lại chặng đường từ Điện Biên Phủ đến cột mốc ấy: vì sao hai dân tộc từng là kẻ thù lại có thể sớm nối lại quan hệ, và ai đã đặt những viên gạch đầu tiên cho mối quan hệ mà hôm nay hai nước gọi là Đối tác Chiến lược Toàn diện.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Marius Moutet ký Tạm ước về quan hệ Việt Nam - Pháp tại Paris ngày 14/9/1946 (Nguồn: Ảnh tư liệu)
1. Vết thương lịch sử và bước ngoặt Điện Biên Phủ (1954)
Người Pháp đặt chân lên Việt Nam từ năm 1858 và đến cuối thế kỷ XIX đã đặt toàn bộ Đông Dương dưới chế độ thuộc địa. Trong gần một trăm năm ấy, Việt Nam trải qua nhiều hy sinh, mất mát: đất nước bị chia thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau, tài nguyên bị khai thác, nhiều cuộc khởi nghĩa bị dìm trong máu, và nạn đói năm 1945 cướp đi sinh mạng của khoảng hai triệu người. Những vết thương ấy in sâu trong ký ức của nhiều thế hệ người Việt. Nhưng cũng chính thời kỳ này để lại một lớp trí thức Việt Nam quen thuộc với tiếng Pháp, với tư tưởng của Cách mạng 1789 và với chính nước Pháp. Trong lớp người đó có Nguyễn Ái Quốc, người đã sống nhiều năm ở Paris, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và hiểu rõ nước Pháp hơn bất cứ nhà cách mạng Việt Nam nào cùng thời.
Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay trong những tháng đầu của nền độc lập, Người tìm mọi cách tránh một cuộc chiến với Pháp: ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946, sang Pháp hơn bốn tháng trong mùa hè năm đó khi phái đoàn Việt Nam đàm phán ở Fontainebleau, rồi ký Tạm ước ngày 14/9/1946 để giữ hòa bình thêm được chừng nào hay chừng ấy. Nhưng phía Pháp, với tư duy thuộc địa cũ, không chấp nhận một Việt Nam độc lập thật sự. Đêm 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Cuộc chiến tranh Đông Dương (1945 – 1954) là đỉnh điểm của sự đối đầu giữa một bên là khát vọng độc lập, tự do của một dân tộc và một bên là nỗ lực duy trì trật tự thuộc địa của đế chế cũ.
Cuối năm 1953, Bộ chỉ huy Pháp quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, hy vọng kéo chủ lực Việt Minh vào một trận quyết chiến có lợi cho họ. Quân đội nhân dân Việt Nam, dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã chấp nhận thách thức ấy theo cách người Pháp không ngờ tới: kéo pháo lên núi bằng sức người, đào hàng trăm cây số chiến hào và chuyển từ phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Chiến dịch mở màn ngày 13/3/1954. Năm mươi sáu ngày đêm sau, chiều 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến - Quyết thắng” tung bay trên nóc hầm chỉ huy của tướng De Castries. Toàn bộ tập đoàn cứ điểm đầu hàng.
Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ kết thúc chín năm kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta. Đây là lần đầu tiên quân đội một nước thuộc địa đánh bại hoàn toàn quân đội chính quy của một cường quốc châu Âu trong một trận đánh lớn. Tin thất trận làm chấn động Paris, làm sụp đổ Chính phủ Laniel và được các dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi đón nhận như một lời cổ vũ. Nhiều nhà sử học Pháp coi Điện Biên Phủ là điểm bắt đầu của sự tan rã của đế chế thuộc địa Pháp, và rộng hơn, của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới.

Hiệp định Genève năm 1954 chưa mang lại thống nhất ngay cho Việt Nam: đất nước tạm thời chia hai miền ở vĩ tuyến 17, chờ tổng tuyển cử dự kiến vào năm 1956, và cuộc tổng tuyển cử ấy đã không bao giờ diễn ra. Nhưng với quan hệ Việt - Pháp, Hiệp định có ý nghĩa lâu dài: về pháp lý, Pháp đã ký vào một văn bản quốc tế thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, điều mà họ từ chối ở Fontainebleau tám năm trước; về thực tế, quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam trong trật tự, chấm dứt hoàn toàn sự hiện diện quân sự và Pháp được giữ lại một cơ quan Tổng đại diện tại Hà Nội. Cuộc chiến giữa hai nước khép lại không bằng một sự cắt đứt, mà bằng một văn bản có chữ ký của cả hai bên. Sự rút lui của người Pháp khép lại một chương lịch sử đau thương, nhưng đồng thời mở ra một câu hỏi lớn: Làm thế nào để hai dân tộc có thể nhìn về tương lai khi những vết thương chiến tranh vẫn còn rỉ máu?
2. Sự thức tỉnh chiến lược và tầm nhìn ngoại giao Hồ Chí Minh
Hai nước vượt qua được quá khứ không phải vì quên đi quá khứ. Đó là kết quả của một tư tưởng đối ngoại đã có ở phía Việt Nam từ trước chiến tranh và của sự thay đổi cách nhìn ở phía Pháp.
Nối tiếp truyền thống nhân nghĩa của dân tộc mà Nguyễn Trãi đã đúc kết từ thế kỷ XV, “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”, ngay từ những ngày đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân biệt rõ hai nước Pháp: một bên là chính quyền thực dân và lực lượng hiếu chiến xâm lược Việt Nam; bên kia là nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình, văn hóa Pháp và truyền thống nhân đạo của Cách mạng Pháp 1789 với khẩu hiệu Tự do - Bình đẳng - Bác ái. Sự phân biệt ấy không phải sách lược nhất thời. Nó bắt nguồn từ chính những năm Người sống ở Pháp, gắn bó với phong trào công nhân và trí thức Pháp.
Trong suốt cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần viết thư gửi nhân dân Pháp, binh sĩ Pháp, Quốc hội và Chính phủ Pháp. Người nhấn mạnh rằng nhân dân Việt Nam không bao giờ coi nhân dân Pháp là kẻ thù, rằng cuộc chiến này do bọn thực dân phản động gây ra và rằng Việt Nam luôn sẵn sàng “mở rộng cánh tay hợp tác” với một nước Pháp tôn trọng độc lập, tự do của Việt Nam. Ngay cả trong những thời điểm khốc liệt nhất của cuộc chiến, những thông điệp hòa bình ấy vẫn được gửi tới chính giới và nhân dân Pháp. Tù binh Pháp ở Điện Biên Phủ được đối xử nhân đạo và trao trả; nhiều người trong số họ trở về Pháp với thái độ khác hẳn với Việt Nam.
Trong chín năm chiến tranh, phong trào phản đối “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” ở Đông Dương lan rộng trong công nhân, trí thức và thanh niên Pháp. Những cái tên như Raymonde Dien, cô gái nằm chắn trước đoàn tàu chở vũ khí sang Đông Dương năm 1950, hay thủy thủ Henri Martin, bị bỏ tù vì rải truyền đơn chống chiến tranh, trở thành biểu tượng của một nước Pháp khác, nước Pháp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi là bạn. Chính lớp người ấy, hai thập kỷ sau, sẽ là lực lượng ủng hộ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Về phía Pháp, sự thức tỉnh bắt đầu khi nước này nhận ra rằng cục diện thế giới đang thay đổi nhanh trong Chiến tranh Lạnh và nước Pháp cần một chỗ đứng độc lập hơn trong cục diện ấy. Bước chuyển gắn với một người: Tổng thống Charles de Gaulle. Trở lại cầm quyền năm 1958, De Gaulle theo đuổi chính sách đối ngoại tự chủ với Washington: kết thúc chiến tranh Algérie (1962), công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1964), rút Pháp khỏi bộ chỉ huy quân sự của NATO (1966). Từng trải qua thất bại ở Đông Dương, ông nhìn cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam với con mắt hoài nghi và ngay từ năm 1963 đã công khai đề xuất trung lập hóa Việt Nam, để người Việt Nam tự giải quyết công việc của mình.
Đỉnh cao của sự chuyển biến này là Tuyên bố Phnom Penh ngày 1/9/1966, bài diễn văn De Gaulle đọc trước hàng chục nghìn người dân Campuchia. Bài diễn văn lịch sử ấy đã:
(1) Công khai chỉ trích cuộc can thiệp quân sự của Mỹ tại Việt Nam, điều chưa một đồng minh phương Tây nào của Washington dám nói thẳng đến vậy;
(2) Khẳng định giải pháp duy nhất cho vấn đề Việt Nam là giải pháp chính trị: chấm dứt can thiệp nước ngoài, bắt đầu bằng cam kết rút quân của Mỹ, và để người Việt Nam tự quyết định vận mệnh của mình. De Gaulle nhắc lại rằng chính Pháp, với kinh nghiệm của mình, hiểu rõ không một cường quốc nào có thể thắng ở Việt Nam bằng vũ lực;
(3) Đưa Pháp trở thành quốc gia phương Tây đầu tiên cất lên tiếng nói đối lập mạnh mẽ với chính sách của Washington tại Đông Dương.
Tuyên bố Phnom Penh thể hiện tinh thần tự chủ trong chính sách đối ngoại của De Gaulle, nhưng với Việt Nam, nó còn có ý nghĩa khác: lần đầu tiên kể từ năm 1954, Hà Nội và Paris có thể tin nhau, vào đúng lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ác liệt nhất. Tháng 7/1966, Jean Sainteny, người từng đại diện Pháp ký Hiệp định Sơ bộ 1946, được De Gaulle cử sang Hà Nội gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Mối quan hệ cá nhân giữa Sainteny và Chủ tịch Hồ Chí Minh, có từ năm 1946, là một trong số ít kênh liên lạc giữa Hà Nội với phương Tây trong những năm chiến tranh. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời tháng 9/1969, Sainteny có mặt tại lễ tang ở Hà Nội, mang theo lời chia buồn của De Gaulle. Lập trường của Pháp cũng không thay đổi khi De Gaulle rời chính trường năm 1969: Tổng thống Georges Pompidou tiếp tục giữ Paris là nơi đàm phán, duy trì kênh liên lạc với Hà Nội và khi Mỹ ném bom Hà Nội, Hải Phòng bằng B-52 tháng 12/1972, Chính phủ và dư luận Pháp đã phản ứng gay gắt.
3. Hiệp định Paris 1973 và việc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức
Lòng tin được gây dựng từng bước như vậy là lý do Paris trở thành nơi đàm phán hòa bình cho Việt Nam.
Paris - Thành phố của Hòa bình Việt Nam
Khi Hà Nội và Washington chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán năm 1968, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề xuất Paris làm địa điểm; Mỹ, dù không mấy mặn mà với De Gaulle, cuối cùng cũng đồng ý. Ngày 13/5/1968, phiên họp đầu tiên giữa đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Bộ trưởng Xuân Thủy dẫn đầu và đoàn Mỹ do Averell Harriman dẫn đầu khai mạc tại Trung tâm Hội nghị quốc tế trên đại lộ Kléber. Từ đầu năm 1969, hội nghị mở rộng thành bốn bên với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) và chính quyền Sài Gòn. Cuộc đàm phán kéo dài gần năm năm, với hơn hai trăm phiên họp công khai và hàng chục cuộc gặp riêng giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và Henry Kissinger, trở thành cuộc đàm phán hòa bình dài nhất trong lịch sử ngoại giao thế giới.
Suốt thời gian ấy, Chính phủ và nhân dân Pháp tạo những điều kiện thuận lợi nhất về hậu cần, an ninh và môi trường chính trị cho Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặt trụ sở tại Choisy-le-Roi, đoàn Mặt trận tại Verrières-le-Buisson, hai thị trấn ngoại ô Paris; chính quyền và người dân ở đó đã che chở, giúp đỡ các đoàn trong gần năm năm. Nhiều cuộc gặp kín giữa Lê Đức Thọ và Kissinger diễn ra tại các ngôi nhà do bạn bè Pháp bố trí. Phong trào ủng hộ Việt Nam ở Pháp cũng lên rất cao trong những năm này, với các cuộc tuần hành lớn ở Paris và các ủy ban đoàn kết với Việt Nam ở khắp các tỉnh.
Ngày 27/1/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký tại Trung tâm Hội nghị quốc tế đường Kléber. Thủ đô của nước từng là kẻ thù của Việt Nam lại là nơi ký văn bản buộc một cường quốc khác thừa nhận độc lập, tự do của Việt Nam. Hơn một tháng sau, từ ngày 26/2 đến 2/3/1973, Hội nghị quốc tế về Việt Nam họp tại Paris với mười hai bên tham dự, trong đó có Pháp, và Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc; Định ước của Hội nghị, ký ngày 2/3/1973, ghi nhận và bảo đảm việc thi hành Hiệp định.
Cột mốc 12/4/1973: Chính thức lập quan hệ ngoại giao
Chỉ chưa đầy ba tháng sau khi Hiệp định Paris được ký, ngày 12/4/1973, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Pháp chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ. Cơ quan Tổng đại diện Pháp tại Hà Nội, tồn tại từ năm 1954, được nâng thành Đại sứ quán; Việt Nam mở Đại sứ quán tại Paris. Sự kiện này có ba ý nghĩa: (1) Phá vỡ thế bao vây, cô lập. Giữa Chiến tranh Lạnh, khi Mỹ và phần lớn phương Tây chưa có quan hệ chính thức với Hà Nội, Pháp trở thành một trong những quốc gia phương Tây lớn đầu tiên thiết lập quan hệ chính thức với Việt Nam. Việc một Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, một cường quốc Tây Âu làm như vậy có sức nặng chính trị với các nước khác, và nhiều nước Tây Âu đã lần lượt đi theo trong những năm 1973 - 1975. (2) Cầu nối nhân đạo và kinh tế. Quan hệ chính thức mở ra kênh trao đổi về hỗ trợ kỹ thuật, y tế, giáo dục và khôi phục sau chiến tranh cho miền Bắc Việt Nam, những nhu cầu rất cấp bách sau các đợt ném bom cuối năm 1972. Những đoàn chuyên gia, bác sĩ Pháp đầu tiên đến Hà Nội, các khoản hỗ trợ nhỏ nhưng kịp thời của Pháp đã mở đầu cho chương trình hợp tác phát triển sẽ lớn mạnh trong thời kỳ Đổi mới. (3) Tiền đề cho sự hòa giải sâu sắc. Quan hệ ngoại giao đầy đủ đặt nền móng pháp lý và chính trị để hai nước khép lại quá khứ, từng bước chuyển từ quan hệ giữa cựu thù sang quan hệ giữa hai đối tác bình đẳng. Trong những năm Việt Nam bị bao vây, cấm vận sau 1979, Pháp là nước phương Tây duy nhất không cắt đứt các kênh hợp tác; chính nền móng đặt từ năm 1973 đã giúp hai nước giữ được sợi dây ấy.
Lời kết
Nhìn lại chặng đường từ thất bại của quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954 đến quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973, có thể thấy rõ hai nước đã hòa giải với nhau như thế nào. Chỉ 19 năm, một khoảng thời gian ngắn so với nhiều cuộc chiến tranh thuộc địa khác, hai dân tộc từng đối đầu đã có thể ngồi lại với nhau. Điều đó có được là nhờ tầm nhìn xa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chưa bao giờ đồng nhất nước Pháp với chủ nghĩa thực dân Pháp và nhờ sự dũng cảm chính trị của những nhà lãnh đạo Pháp như Mendès France và De Gaulle, những người dám nói và làm điều mà các đồng minh của họ không muốn.
Hai dân tộc đã không để quá khứ làm rào cản cho tương lai. Khoảng cách do lịch sử để lại được thu hẹp dần bằng lòng tin, sự tôn trọng lẫn nhau và mong muốn hòa bình của cả hai bên. Nhưng nền móng năm 1973 mới chỉ là nền móng. Phải đến khi Việt Nam bước vào Đổi mới và thế giới bước ra khỏi Chiến tranh Lạnh, quan hệ hai nước mới thật sự phát triển. Đó là câu chuyện của Kỳ 2: “Bước chuyển tầm nhìn - Tạo dựng cơ sở cho mối quan hệ chiến lược (1986 - 2013)”.
Nguyễn Đình Thiện
Nguyễn Thị Hoài Thu