1. Tuyên ngôn Độc lập chính là sự kết nối khí chất hào hùng và lòng tự tôn dân tộc, tiếp nối truyền thống cha ông từ bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt đến Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Tuyên ngôn Độc lập là một văn bản pháp lý hiện đại, ngắn gọn, chặt chẽ, sắc bén, khẳng định địa vị pháp lý của nền độc lập và chủ quyền quốc gia với toàn thể thế giới, chứa đựng giá trị lịch sử to lớn: Thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí độc lập, tự do và khát vọng hòa bình của dân tộc; khẳng định sức sống trường tồn của một dân tộc kiên cường không chịu khuất phục dưới ách ngoại bang; bản tuyên ngôn là lời tuyên bố đanh thép về chủ quyền quốc gia dân tộc: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập” và sự khẳng định quyền con người, quyền bình đẳng và quyền được sống trong hòa bình, độc lập của mọi dân tộc; đồng thời là sự khẳng định những giá trị tiến bộ của nhân loại. Tinh thần của Tuyên ngôn Độc lập thể hiện sự quyết tâm mạnh mẽ toàn dân tộc Việt Nam bảo vệ cho bằng được quyền tự do, độc lập. Tuyên ngôn Độc lập đã trở thành kim chỉ nam, nguồn sức mạnh nội lực vững chắc để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Việt Nam kiên cường đấu tranh, giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm; trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) hiện nay.
2. Tổ quốc là phạm trù đặc biệt, thiêng liêng với mỗi quốc gia - dân tộc trên thế giới. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) với bảo vệ chế độ, nhà nước XHCN, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ nhân dân, bảo vệ quốc gia - dân tộc. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam không những là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, mà còn là bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ sự nghiệp đổi mới; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh mạng..., trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay mang tính toàn diện, mở rộng cực đại về chủ thể, không gian và phạm vi. Trong đó, trách nhiệm BVTQ là của toàn dân, nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân bao gồm Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐND) và Công an nhân dân Việt Nam (CAND).
3. Mỗi quốc gia là một thực thể đa chiều phức tạp gồm các yếu tố tự nhiên, xã hội, vật chất và tinh thần. Sức mạnh tổng hợp quốc gia là một khái niệm quan trọng cả về lý thuyết lẫn thực tiễn trong nghiên cứu quốc tế. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới khẳng định sức mạnh BVTQ là sức mạnh tổng hợp của cả nước, bao gồm sức mạnh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và của các lực lượng; kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, nhưng suy cho cùng sức mạnh của nhân dân mới là điều căn bản nhất. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII của Đảng tiếp tục khẳng định về sức mạnh tổng hợp quốc gia, sức mạnh của toàn dân tộc, sức mạnh toàn diện của các lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Đối với dân tộc Việt Nam, sức mạnh tổng hợp của dân tộc theo tinh thần của Tuyên ngôn Độc lập: “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” luôn được Đảng ta phát huy cao độ trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại, đạt thành tựu to lớn cho dân tộc hơn 90 năm qua, trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ hiện nay. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều đó đã tạo nền tảng vững chắc, nâng cao sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và khẳng định vị thế quốc tế của Việt Nam.
Nhận thức về sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc từ khi đổi mới đến nay có bước phát triển toàn diện lên tầm cao mới, tạo thế và lực để đất nước giành được những thắng lợi to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp BVTQ. Sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc Việt Nam là sự tổng hợp của các nguồn lực về chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, sức mạnh của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, vị thế quốc tế… (bao gồm sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần); là khả năng, là nghệ thuật bố trí, sắp xếp, huy động, kết hợp hài hòa mọi nguồn lực, từ yếu tố con người và các yếu tố vật chất, tinh thần khác một cách khoa học, tinh tế để tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn. Trong đó, đại đoàn kết và lòng yêu nước là chất kết dính các thành tố khác để tạo ra sức mạnh tổng hợp hiệu quả và bền vững để bảo vệ và xây dựng đất nước; vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm tạo ra sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam; lấy sức mạnh tinh thần làm cốt lõi, xuyên suốt; lấy đại đoàn kết dân tộc làm động lực chủ yếu; lấy xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng, phát huy sức mạnh tổng hợp BVTQ. Đây là vấn đề có tính chất lý luận cũng như thực tiễn để phát huy sức mạnh đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.
4. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đang được tiến hành trong bối cảnh quốc tế mới đan xen nhiều vấn đề phức tạp. Những điểm nóng chiến tranh, xung đột trên thế giới hiện nay như vấn đề Nga - Ukraine, vấn đề Trung Đông,… cho thấy những mâu thuẫn về lãnh thổ, sắc tộc, tôn giáo, lợi ích quốc gia vẫn luôn âm ỉ cháy và rất dễ bùng nổ thành xung đột, chiến tranh và cũng cho thấy rằng nền hòa bình thế giới đương đại hiện nay rất dễ bị tổn thương. Vấn đề tội phạm xuyên quốc gia, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng bị xâm phạm; sự lây lan của chủ nghĩa khủng bố quốc tế; sự phát triển nhanh chóng, khó lường, khó dự báo của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khiến chúng ta phải đối phó ngày càng phức tạp hơn với những thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống mang tính toàn cầu tác động mạnh đến cục diện quan hệ quốc tế, làm thay đổi những vấn đề cơ bản trong quan hệ quốc tế như độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia.
Các thế lực thù địch, phản động tiếp tục gia tăng hoạt động chống phá, đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN. Cùng với đó, sự nghiệp BVTQ, bảo vệ an ninh quốc gia (ANQG) đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, trong đó có những thách thức mới chưa từng có. Bốn nguy cơ mà Đảng chỉ ra tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) còn tồn tại, có mặt khắc phục từng bước, nhưng có mặt gay gắt hơn; những thách thức đối với ổn định chính trị, xã hội mà trực tiếp nhất là đe dọa vai trò, sự lãnh đạo của Đảng, nền tảng tư tưởng của Đảng… ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn. Trong trạng thái đó, sự nghiệp BVTQ, bảo vệ ANQG phải giải quyết bài toán với nhiều ẩn số phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ.
5. Vận dụng những giá trị to lớn của Tuyên ngôn Độc lập để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cần tập trung thực hiện tốt những vấn đề sau:
Một là, kiến tạo thành trì sức mạnh tinh thần thông qua khơi dậy mạnh mẽ khát vọng độc lập - tự do, xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân hạnh phúc, tiếp nối truyền thống yêu nước, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.
Đối với dân tộc Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là vấn đề cốt tử; là mục tiêu, lý tưởng, là con đường của cách mạng Việt Nam để thực hiện khát vọng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ…”(1).
Tư tưởng độc lập, tự do, hạnh phúc là cơ sở để phát triển toàn diện tư duy về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, mà cốt lõi là chủ động BVTQ trong thời bình, từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là bước phát triển lên tầm cao mới của tư duy lý luận. Chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ Tổ quốc XHCN là những định hướng chiến lược trong xác định mục tiêu, đề ra quan điểm, phương châm, phương thức, sức mạnh, lực lượng để BVTQ. Có thể thấy, tư tưởng độc lập, tự do, hạnh phúc mang tính toàn diện, mở rộng về nội hàm từ độc lập về lãnh thổ đến độc lập chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, độc lập, tự do về chính trị, kinh tế, văn hóa… Trong đó, hạnh phúc luôn luôn thuộc về người dân, bảo vệ Nhân dân là nội hàm quan trọng trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới của Đảng.
Hai là, tăng cường củng cố, xây dựng và phát huy mạnh mẽ sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, “nước lấy dân làm gốc” làm nền tảng, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp, kết hợp sức mạnh của toàn dân tộc với sức mạnh thời đại, sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Truyền thống đoàn kết là nhân tố nổi bật, cội nguồn quyết định sự thành bại sự nghiệp đấu tranh BVTQ của dân tộc Việt Nam hàng nghìn năm qua. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành sức mạnh tinh thần làm trụ cột trong sức mạnh tổng hợp để BVTQ. Đại đoàn kết trở thành động lực phát triển bền vững cho công cuộc đổi mới toàn diện, sự nghiệp xây dựng và BVTQ thời kỳ mới.
Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng đồng bộ, toàn diện từ đoàn kết trong Đảng: “Phát huy sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư”(2) đến đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết người Việt Nam yêu nước ở nước ngoài, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là yêu cầu cấp bách, thường xuyên, liên tục trong sự nghiệp BVTQ. Đặc biệt, cần có cơ chế, chính sách cho đồng bào sống và làm việc tại nước ngoài phát huy tinh thần yêu nước, phụng sự Tổ quốc, gắn lợi ích của nhân dân với lợi ích dân tộc.
Trong lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, phương pháp kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế càng được Đảng ta sử dụng linh hoạt và sáng tạo. Điểm mới ở đây là Đảng đã bổ sung quan điểm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí” và “kết hợp với sức mạnh thời đại” vào nội dung “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” hiện nay. Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất”(3). Hai yếu tố sức mạnh đó phát huy trong sự gắn kết hữu cơ để tạo nên sức mạnh tổng hợp ngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ hòa bình, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chiến lược của đất nước.
Ba là, phát huy cao độ tinh thần chủ động, sáng tạo, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc tạo sức mạnh “nội lực” của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN trong thời kỳ mới.
Tinh thần tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc góp phần khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong suốt cuộc đời cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần tự lực, tự cường và coi đó là phương châm hành động của cách mạng Việt Nam. Đó là sự chủ động và sáng tạo về chính trị, về xác định và hoạch định đường lối chiến lược, phương pháp cách mạng.
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, với những nhiệm vụ chính trị mới. Đại hội XIII của Đảng đã xác định các quan điểm chỉ đạo công cuộc đổi mới hiện nay, trong đó nhấn mạnh: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(4). Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ, nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực là sức mạnh nội sinh đóng vai trò quyết định, là cơ sở tranh thủ ngoại lực.
Kiên định quan điểm độc lập, tự chủ; bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong tình hình mới. Thực hiện sáng tạo phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”; chủ động, linh hoạt và kịp thời giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và đẩy mạnh hội nhập quốc tế phù hợp với từng thời điểm, tình huống. Coi trọng và xử lý đúng đắn, linh hoạt quan hệ giữa các nước lớn, dựa trên vị trí địa - chiến lược của đất nước và lợi ích chiến lược của quốc gia. Kiên định thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” trong quan hệ quốc phòng của Việt Nam; cảnh giác, ngăn ngừa sự thỏa hiệp giữa các nước liên quan đến chủ quyền, lợi ích của Việt Nam; kiên quyết đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc.
Bốn là, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị làm trung tâm tạo nên sức mạnh chính trị - tinh thần làm cốt lõi, xuyên suốt sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.
Trong tình hình mới, Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối chính trị khoa học, đúng đắn, không ngừng bổ sung và phát triển Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng sức mạnh quốc phòng, an ninh, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân (QPTD), thế trận an ninh nhân dân (ANND)... Qua đó, phát triển lý luận BVTQ, đặc biệt nhấn mạnh xây dựng lực lượng quân đội, công an với mục tiêu “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” đáp ứng mục tiêu, yêu cầu BVTQ trong tình hình mới.
Để bảo đảm năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng và hệ thống chính trị trong sự nghiệp BVTQ khó khăn, phức tạp hiện nay, cần đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) khẳng định: phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tại Hội nghị Trung ương 12 khóa XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm đặc biệt lưu ý đến mô hình tổ chức, năng lực cán bộ khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; chú ý có đề xuất sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tiễn công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ mới. Đó là những vấn đề rất mới, rất cấp thiết chuẩn bị cho những nhiệm vụ chính trị mới của Đảng trong xây dựng và BVTQ hiện nay.
Năm là, phát huy vai trò nòng cốt, xung kích của QĐND và CAND trong xây dựng nền QPTD, nền ANND, xây dựng thế trận QPTD gắn với xây dựng thế trận ANND, lấy xây dựng “thế trận lòng dân”, đẩy mạnh phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc"; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc.
Sức mạnh của nền QPTD, của nền ANND là sức mạnh tổng hợp của quốc gia trên tất cả các lĩnh vực xã hội từ quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh, đối ngoại. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được Đảng xác định là lực lượng vũ trang nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ, sự nghiệp đổi mới; bảo vệ nền văn hóa và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước, giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước, đóng góp tích cực vào gìn giữ hòa bình khu vực và thế giới.
Kết hợp các nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, xây dựng, củng cố thế trận QPTD gắn với thế trận ANND chặt chẽ, với trọng tâm là xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, là nền tảng “gốc rễ”, nghệ thuật đặc sắc, là một trong những nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu, liên quan trực tiếp đến lợi ích cốt lõi quốc gia - dân tộc, yếu tố quyết định tạo nên thế trận liên hoàn, toàn diện, rộng khắp, tổng hợp sức mạnh của dân tộc ta để BVTQ hiện nay, sinh mệnh và sự sống còn của Đảng, Nhà nước và Tổ quốc XHCN. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”(5). Các quan điểm của Đảng về bảo vệ ANQG, xây dựng thế trận ANND kết hợp chặt chẽ với thế trận QPTD được thể chế hóa trong các văn bản pháp quy do Quốc hội, Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng ban hành.
Đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc" góp phần quan trọng xây dựng thế trận ANND vững chắc, toàn diện, phát huy được hiệu quả một cách đồng bộ, bền vững bảo đảm cho sự nghiệp BVTQ. Sức mạnh BVTQ là sức mạnh tổng hợp của toàn dân tạo thành “thế trận lòng dân”, từ phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc" với lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, sự thống nhất quản lý của Nhà nước tạo ra sức mạnh vật chất - kỹ thuật - tinh thần cho sự nghiệp BVTQ của chúng ta đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Mối quan hệ giữa củng cố quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội là mối quan hệ biện chứng, thống nhất, hỗ trợ, tác động bổ trợ cho nhau trong chiến lược BVTQ. Tăng cường quốc phòng, an ninh còn trực tiếp thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế của đất nước trong kỷ nguyên mới. Ngược lại, kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển đất nước mạnh giàu làm hậu thuẫn cho xây dựng nền quốc phòng, an ninh hùng mạnh. Đây là quan điểm xuyên suốt, chủ trương nhất quán của Đảng, được bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện thực tế qua các kỳ đại hội. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”(6). Để đáp ứng được yêu cầu này, lực lượng vũ trang cần tiên phong, gương mẫu, đi đầu trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”; đồng thời, tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 22-3-2018 của Bộ Chính trị, “Về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Tập trung sức phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật - tinh thần cho chủ nghĩa xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh.
Sáu là, hoạch định và phát huy mạnh mẽ, hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tích cực đẩy mạnh đa dạng, đa phương hóa quan hệ quốc tế, hội nhập quốc tế sâu rộng trên tinh thần tự lực, tự cường, chủ động và tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, hợp tác cùng phát triển vì một thế giới hòa bình, hữu nghị và phát triển bền vững.
Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia”(7). Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025 của Bộ Chính trị, về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới” khẳng định: Hội nhập quốc tế về chính trị, quốc phòng, an ninh.
Theo đó, kết hợp chặt chẽ giữa các trụ cột đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân và giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh để tạo thế chân kiềng vững chắc, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, huy động nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước. Tham gia hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh cả bề rộng, chiều sâu, nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, tạo lập môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.
Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc theo tinh thần của Tuyên ngôn Độc lập là nền tảng chính trị, tinh thần to lớn, bảo đảm cho thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay./.
-----------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 70
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 229
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 110 - 111
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 34
(5), (6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 157
((7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 164