Nghiên cứu Quốc tế
Thứ Tư, 14/10/2026 14:6'(GMT+7)

QUAN HỆ VIỆT NAM - CỘNG HÒA PHÁP: TỪ CỰU THÙ LỊCH SỬ ĐẾN ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN

 KỲ CUỐI: NGOẠI GIAO NHÂN DÂN VÀ DẤU ẤN VĂN HÓA – SỢI DÂY BỀN CHẶT NHẤT

Nếu những cam kết chính trị định hình tầm vóc của quan hệ song phương, còn hợp tác kinh tế - công nghệ tạo nên sức mạnh vật chất, thì văn hóa và giao lưu nhân dân chính là chất keo tinh thần bền chặt nhất. Đó là sợi dây vô hình nhưng có sức chịu đựng lạ thường, giúp hai dân tộc Việt Nam và Pháp tìm thấy sự đồng điệu, đồng cảm và trân trọng lẫn nhau qua mọi biến động của lịch sử.

Họp báo giới thiệu Tuần sân khấu Việt Nam tại Pháp năm 2026. Ảnh chinhphu.vn/MT

Chặng đường ấy được xây dựng thông qua những dấu mốc cụ thể. Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 12/4/1973, nâng lên Đối tác chiến lược nhân kỷ niệm 40 năm (2013), rồi nâng lên Đối tác chiến lược toàn diện vào tháng 10/2024, khi Pháp trở thành nước EU đầu tiên có quan hệ ở mức cao nhất với Việt Nam. Tháng 9/2026, chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp tục đưa quan hệ đi vào chiều sâu, với nhiều văn kiện hợp tác được trao đổi, trong đó có một điều khoản riêng dành cho giao lưu nhân dân và văn hóa. Bài viết này phân tích ba trụ cột của “sợi dây bền chặt” ấy: sự giao thoa văn hóa, hợp tác giáo dục - y tế và cộng đồng người Việt tại Pháp.

1. Giao thoa văn hóa - dấu ấn xuyên thời gian

Dấu ấn văn hoá Pháp trong không gian sống Việt. Trải qua nhiều thăng trầm, sự tương tác giữa hai nền văn hóa đã vượt khỏi khuôn khổ của một giai đoạn lịch sử để trở thành sự giao thoa tự nhiên, làm giàu thêm bản sắc của cả hai dân tộc. Điều đáng chú ý là người Việt không tiếp nhận một cách thụ động. Những yếu tố văn hóa đến từ một bối cảnh lịch sử đầy đau thương đã được chọn lọc, cải biến và hòa vào đời sống dân tộc, đến mức nhiều thứ ngày nay được coi là nét riêng của chính người Việt.

Dấu ấn rõ nhất là di sản kiến trúc đô thị. Nhà hát Lớn Hà Nội, cầu Long Biên, Bưu điện Trung tâm Sài Gòn cùng hàng trăm biệt thự cổ ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh hay Đà Lạt không chỉ là chứng tích của một thời kỳ, mà đã trở thành một phần tâm hồn đô thị Việt Nam. Thế hệ người Hà Nội hôm nay gắn kỷ niệm của mình với quảng trường Nhà hát Lớn, với những con phố cây cao bóng mát của khu phố Pháp cũ, chứ không phải là những công trình xa lạ. Chính vì vậy, việc gìn giữ và trùng tu các công trình này là mối quan tâm chung của cả hai nước. Từ nhiều năm trước, phía Pháp đã bày tỏ sẵn sàng hợp tác với Việt Nam trong các dự án trùng tu, bảo tồn di tích liên quan đến kiến trúc Pháp tại Việt Nam, thông qua chia sẻ thông tin, cơ sở dữ liệu, đào tạo nhân lực về phục chế và số hóa dữ liệu di sản. Khi di sản từng là dấu vết của quá khứ được hai bên cùng chăm chút, đó là biểu hiện cụ thể của quá trình hòa giải lịch sử.

Dấu ấn ấy còn thấm đẫm trong đời sống thường nhật: nếp uống cà phê, nghệ thuật làm bánh, phong cách ẩm thực và những từ đã Việt hóa hoàn toàn như “xà phòng”, “ga”, “cà rốt”. Trong mỹ thuật, Trường Mỹ thuật Đông Dương đã đào tạo nhiều họa sĩ tiên phong của hội họa hiện đại Việt Nam, những người sau này tạo nên một diện mạo hội họa riêng, kết hợp kỹ thuật phương Tây với chất liệu và tâm hồn Việt. Có thể nói, cái đáng quý trong giao thoa Việt - Pháp không nằm ở việc vay mượn, mà ở năng lực sáng tạo của người Việt khi biến cái vay mượn thành cái của mình.

Sức hấp dẫn của văn hóa Việt Nam tại Pháp. Ở chiều ngược lại, văn hóa Việt Nam với chiều sâu lịch sử, tư tưởng phương Đông, nghệ thuật múa rối nước, âm nhạc truyền thống và nền ẩm thực phong phú như phở, bánh mì, nem luôn có sức hút riêng đối với công chúng Pháp. Món ăn Việt hiện diện thường ngày ở các thành phố lớn của Pháp, không còn là “món lạ” mà đã thành một phần đời sống ẩm thực đô thị. Tiếng nói học thuật cũng là một kênh giao lưu quan trọng, nước Pháp có truyền thống lâu đời về Đông phương học và Việt Nam học, với vai trò của những thiết chế như Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO), hoạt động hơn một thế kỷ. Các công trình nghiên cứu về lịch sử, khảo cổ, ngôn ngữ, tôn giáo Việt Nam của giới học giả Pháp góp phần giúp thế giới hiểu đúng hơn về Việt Nam, đồng thời là nguồn tư liệu quý cho chính các nhà nghiên cứu trong nước.

Trong những năm gần đây, chính cộng đồng người Việt tại Pháp cũng chủ động tạo ra những không gian văn hóa mới. Một ví dụ là triển lãm mỹ thuật “Từ sông Seine đến sông Hồng” cùng lễ ra mắt Hiệp hội “Làng Văn hóa và Nghệ thuật Việt Nam tại Pháp” (CCAVF), được tổ chức ngày 31/5 tại thành phố Arcueil, vùng Ile-de-France [1]. Tên gọi của sự kiện đã nói lên tinh thần giao thoa giữa hai dòng sông, hai nền văn hóa, nhưng có một dòng chảy chung.

Giai đoạn đầu, sự giao thoa văn hóa Việt - Pháp phần lớn là kết quả của lịch sử. Từ khi hai nước nâng quan hệ lên tầm đối tác chiến lược toàn diện, giao lưu văn hóa được đặt vào một khuôn khổ chủ động, có định hướng. Tuyên bố chung nhân chuyến thăm tháng 9/2026 nêu rõ hai bên thúc đẩy giao lưu nhân dân, tạo thuận lợi cho hợp tác văn hóa, nhất là bảo tồn và phát huy giá trị di sản, giao lưu nghệ thuật và các ngành công nghiệp văn hóa, cùng với thể thao, khoa học, đổi mới sáng tạo, thông qua các chương trình trao đổi sinh viên và nhà nghiên cứu trẻ. Cũng trong chuyến thăm, phu nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cùng Bộ trưởng Bộ Văn hóa Pháp chứng kiến một lễ bàn giao, được nhìn nhận là minh chứng cho hợp tác ngày càng sâu sắc về bảo tồn di sản và cam kết chống buôn bán trái phép tài sản văn hóa. Phía Pháp còn trao lại cho Việt Nam tài liệu lưu trữ về Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Bộ Ngoại giao Pháp, một cử chỉ có ý nghĩa đối với việc gìn giữ ký ức lịch sử chung. Những hoạt động này cho thấy ngoại giao văn hóa Việt - Pháp đã chuyển từ giao lưu mang tính biểu diễn sang hợp tác theo chiều sâu, có nội dung cụ thể như bảo tồn, số hóa, đào tạo chuyên gia, trao trả và bảo vệ tài sản văn hóa.

Một mảng khác là Pháp ngữ. Việt Nam từng đăng cai Hội nghị cấp cao Pháp ngữ tại Hà Nội năm 1997 và là thành viên tích cực của cộng đồng này. Việc dạy và học tiếng Pháp, dù không còn ở quy mô như trước, vẫn tạo ra một tầng lớp người Việt am hiểu văn hóa Pháp, là nguồn nhân lực quan trọng cho quan hệ hợp tác dài hạn.

2. Giáo dục - y tế: những nhịp cầu tri thức và nhân văn

Giáo dục và y tế là nơi giao lưu nhân dân được “cụ thể hóa” thành những con người, những thiết chế và những thành quả đo đếm được. Hợp tác trong hai lĩnh vực này mang tính đặc thù sâu sắc, gắn liền với việc đào tạo những thế hệ người làm nghề có tâm huyết phụng sự cả hai quốc gia.

Trong dòng chảy hợp tác, y tế đã trở thành biểu tượng của tình người và chuyên môn. Chương trình bác sĩ nội trú tu nghiệp tại Pháp (FFI) là chương trình nổi bật nhất của hợp tác y khoa. Theo các phát biểu tại hội nghị y học Pháp - Việt, chương trình kéo dài hơn 30 năm này đã đào tạo hàng nghìn bác sĩ chuyên khoa, chuyên gia y học của Việt Nam, nhiều người giữ vị trí quan trọng trong hệ thống y tế, còn khởi nguồn của chương trình là hợp tác giữa Đại học Paris 6 với Trường Đại học Y Hà Nội. Khi phát biểu với sinh viên tại Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) năm 2025, Tổng thống Macron cho biết Pháp đã đào tạo cho Việt Nam hơn 15.000 kỹ sư, hơn 3.000 bác sĩ và hàng nghìn chuyên gia pháp luật [2]. Nền tảng pháp lý cho hợp tác này là Hiệp định Chính phủ về hợp tác y tế ký năm 1993, từ đó nhiều dự án đào tạo y khoa, trao đổi chuyên gia, cung cấp trang thiết bị và thuốc đã được triển khai.

Sức lan tỏa của hợp tác này thể hiện rất rõ nét, điển hình như tại Thành phố Hồ Chí Minh, hơn 100 bác sĩ nhi khoa được đào tạo tại Pháp đã trở thành “hạt nhân” của hai trường đại học y khoa và ba bệnh viện nhi của thành phố, đồng thời là nguồn nhân lực cho các chuyên khoa sâu như ghép thận, ghép gan tại Bệnh viện Nhi Đồng 2. Điều này cho thấy giá trị của hợp tác đào tạo không dừng ở số lượng người được đi học, mà ở hiệu ứng nhân rộng: một bác sĩ được đào tạo bài bản sẽ đào tạo thêm nhiều thế hệ bác sĩ khác, chuyển giao kỹ thuật, quy trình và văn hóa nghề nghiệp. Trong lĩnh vực đào tạo trong nước, từ năm 2005, chương trình đào tạo y khoa tăng cường tiếng Pháp đã được chính thức đưa vào giảng dạy tại Trường Đại học Y Hà Nội, mở rộng cánh cửa cho những thế hệ bác sĩ tiếp cận nền y học Pháp ngay từ trong nước.

Sợi dây y tế ấy còn được thử thách trong những thời điểm khó khăn nhất. Từ dịch SARS năm 2003 đến đại dịch COVID-19, y bác sĩ và nhà khoa học hai nước đã sát cánh bên nhau, chia sẻ kinh nghiệm lâm sàng, trang thiết bị và vắc-xin. Cộng đồng kiều bào cũng chung tay, khi Hội Người Việt Nam tại Pháp (UGVF) trong nhiệm kỳ 2019-2022 đã quyên góp 10.000 liều vắc-xin ủng hộ quê hương [3]. Y tế vì thế là lĩnh vực mà tình cảm chính trị và lòng nhân ái gặp nhau rõ nhất.

Trong giáo dục, hợp tác Việt - Pháp phát triển theo hai hướng bổ sung cho nhau: đưa người Việt sang học tại Pháp và đưa chương trình, chuẩn mực đào tạo của Pháp về Việt Nam. Hướng thứ nhất có lịch sử lâu đời, với hàng nghìn sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam từng và đang học tại Pháp. Họ không chỉ tiếp thu tri thức hiện đại mà còn trở thành những đại sứ văn hóa, góp phần thắt chặt tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Sau khi về nước, nhiều người tham gia mạng lưới cựu sinh viên France Alumni, lực lượng kết nối với cộng đồng doanh nghiệp Pháp đang hoạt động tại Việt Nam.

Hướng thứ hai thể hiện rõ nhất qua Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH), được thành lập và phát triển theo các hiệp định giữa Chính phủ hai nước ký ngày 12/11/2009 và 2/11/2018. Việc Tổng thống Macron chọn USTH để gặp gỡ sinh viên trong chuyến thăm cấp Nhà nước tháng 5/2025 cho thấy ý nghĩa biểu tượng và thực chất của nhà trường trong quan hệ hai nước. Tại đây, ông thông báo hai nước sẽ ký một hiệp định mới về giáo dục và bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác trong trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo, công nghệ số, robot và tự động hóa. Những lĩnh vực này cho thấy hợp tác giáo dục đang chuyển từ đào tạo theo mô hình truyền thống sang đồng kiến tạo tri thức ở các ngành then chốt của kinh tế số và chuyển đổi xanh.

Chương trình Thạc sĩ Toán ứng dụng Việt - Pháp cũng là một ví dụ về hiệu quả đào tạo. Chương trình triển khai từ năm 2007 theo thỏa thuận giữa hai Chính phủ, đến nay có hơn 270 thạc sĩ tốt nghiệp, trong đó gần 60% hoàn thành chương trình tiến sĩ tại các đại học danh tiếng ở châu Âu, châu Mỹ, châu Á [12]. Sản phẩm của chương trình không chỉ là những tấm bằng, mà là một lớp nhà khoa học trẻ hội nhập quốc tế, sẵn sàng cùng lúc đóng góp cho Việt Nam và cho mạng lưới nghiên cứu toàn cầu.

Như vậy, hợp tác giáo dục - y tế tạo nguồn nhân lực có tính bền vững hơn nhiều so với các dự án vật chất, vì những người từng học tập, làm việc ở Pháp mang theo hiểu biết và tình cảm với nước Pháp suốt cuộc đời, và họ ở trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam không chỉ “nhận” tri thức mà đang từng bước trở thành đối tác nghiên cứu ngang hàng, với các chương trình hợp tác làm cầu nối.

3. Cộng đồng người Việt tại Pháp: lực lượng nòng cốt giữ lửa hữu nghị

Cộng đồng người Việt Nam tại Pháp là một trong những cộng đồng lâu đời nhất ở châu Âu. Theo báo cáo của Đại sứ Việt Nam tại Pháp nhân chuyến thăm tháng 9/2026, cộng đồng có trên 300.000 người, với nhiều hội đoàn cùng đội ngũ đông đảo nhà khoa học, trí thức, chuyên gia, doanh nhân, sinh viên và thanh niên [4]. Trước đó, báo cáo với lãnh đạo cấp cao cũng cho biết cộng đồng có khoảng hơn 200 hội đoàn, đội ngũ trí thức khoảng 50.000 người và hàng nghìn doanh nhân [5]. Các số liệu này cho thấy đây không chỉ là một cộng đồng đông đảo mà còn có chất lượng nguồn lực cao, hội nhập tốt vào đời sống chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa của nước sở tại.

Từ những năm tháng kháng chiến, kiều bào tại Pháp, trong đó Hội Người Việt Nam tại Pháp (UGVF) là một hạt nhân, luôn là chỗ dựa tinh thần và vật chất của đất nước. Truyền thống này gắn với lịch sử hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Pháp sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, Người về nước cùng với một số nhân sĩ trí thức yêu nước đang sống và làm việc tại Pháp, cùng đoàn kết kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi cuối cùng. Ngày nay, sự đóng góp của kiều bào mang những hình thức mới: tư vấn chính sách, chuyển giao công nghệ, đầu tư, kết nối doanh nghiệp. Tại các cuộc gặp gỡ cộng đồng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhấn mạnh các doanh nhân là những cầu nối đầu tư, thương mại, công nghệ, góp phần đưa ngày càng nhiều doanh nghiệp Pháp và châu Âu đến Việt Nam, đồng thời kêu gọi cộng đồng hưởng ứng tinh thần Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 02/08/2026  Công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong kỷ nguyên mới, bởi kiều bào được xác định là bộ phận không tách rời của dân tộc và nguồn lực quan trọng đóng góp cho đất nước.

Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, vai trò cầu nối văn hóa của cộng đồng thể hiện qua các sự kiện thường niên. Tết cổ truyền từng được tổ chức tại trụ sở UNESCO với khoảng 2.000 khách dự, còn Tết Trung thu tại Paris thu hút hàng trăm phụ huynh và thiếu nhi. Bên cạnh đó là những hoạt động cộng đồng như Đại hội thể thao Olympic Người Việt Nam tại Pháp, tổ chức ngày 6-7/6/2026 tại thành phố Troyes cùng nhiều hội đoàn người Việt. Những sự kiện này không chỉ giữ gìn bản sắc trong cộng đồng mà còn đưa văn hóa Việt Nam đến gần hơn với người dân bản địa.

Tuy vậy, cộng đồng cũng đứng trước một thách thức mang tính thế hệ, làm thế nào để thế hệ thứ hai, thứ ba, sinh ra và lớn lên ở Pháp, vẫn giữ được tiếng Việt và ý thức về cội nguồn. Đây là điều mà lãnh đạo Việt Nam đặc biệt quan tâm khi căn dặn thế hệ trẻ dù sinh ra ở đâu cũng tự hào về bản sắc Việt, cố gắng giữ gìn tiếng Việt, học tập tốt và chăm lo gia đình. Các hội đoàn kiều bào cũng xác định trọng tâm là tăng cường sự tham gia của thế hệ trẻ, bảo vệ bản sắc văn hóa, trước hết là giảng dạy tiếng Việt cho con em thế hệ thứ hai, thứ ba. Việc giữ gìn tiếng Việt vì thế không chỉ là vấn đề văn hóa mà còn là điều kiện để cộng đồng tiếp tục làm cầu nối trong nhiều thập kỷ tới.

Từ những phân tích trên, có thể rút ra một số đặc điểm tạo cơ sở, tiền đề cho giao lưu nhân dân và văn hóa có sức bền đặc biệt trong quan hệ Việt - Pháp.

Thứ nhất là tính tích lũy. Quan hệ chính trị có thể được nâng cấp bằng một tuyên bố chung, nhưng quan hệ nhân dân phải được vun đắp qua từng thế hệ. Mỗi bác sĩ tu nghiệp, mỗi sinh viên du học, mỗi gia đình kiều bào là một “mắt xích” mới. Những mắt xích ấy cộng dồn qua thời gian, tạo thành mạng lưới ngày càng dày, khó bị đứt gãy bởi những biến động ngắn hạn.

Thứ hai là tính đa chiều và tính tự thân. Trong khi quan hệ nhà nước vận hành qua các kênh chính thức, giao lưu nhân dân diễn ra ở vô số kênh phi chính thức: hội nghị y khoa, phòng thí nghiệm chung, lễ hội cộng đồng, quán cà phê, trường học... Nhờ đó, ngay cả khi có những lúc quan hệ song phương gặp khó khăn, các kênh này vẫn duy trì sự hiểu biết lẫn nhau. Đây cũng là nguồn “sức mạnh mềm” đáng kể, giúp hình ảnh mỗi nước trở nên gần gũi, đáng tin cậy trong mắt người dân nước kia.

Thứ ba là tính liên kết trong các trụ cột khác. Hợp tác kinh tế cần niềm tin và sự hiểu biết văn hóa: kim ngạch thương mại hai chiều năm 2024 đạt 5,42 tỷ USD, tăng 12,9% so với năm 2023 [6], và các doanh nhân, trí thức kiều bào chính là những người giúp doanh nghiệp hai nước hiểu nhau hơn. Hợp tác công nghệ cần nguồn nhân lực được đào tạo chung, còn hợp tác chính trị cần sự đồng thuận xã hội. Có thể nói, giao lưu nhân dân là điều kiện giúp hai trụ cột kia phát huy hiệu quả lâu dài.

Từ đó, cần tập trung thực hiện một số định hướng cho thời gian tới. Về giao lưu văn hóa, cần đẩy mạnh các dự án đồng sáng tạo trong công nghiệp văn hóa, số hóa di sản, trùng tu công trình kiến trúc chung và trao đổi nghệ thuật, đúng tinh thần Tuyên bố chung năm 2026. Về giáo dục - y tế, cần tiếp tục mở rộng mô hình như Đại học Bách khoa và Công nghệ Hà Nội, các chương trình liên kết đào tạo và trao đổi nghiên cứu sinh, ưu tiên những ngành mới như trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo, y học chính xác, đồng thời phát huy mạng lưới cựu sinh viên, cựu bác sĩ từng học ở Pháp. Về cộng đồng, cần hỗ trợ dạy và học tiếng Việt cho thế hệ trẻ, khuyến khích trí thức, doanh nhân kiều bào tham gia các dự án cụ thể trong chuyển đổi số, khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời tiếp tục tạo điều kiện để cộng đồng hội nhập tốt trên đất Pháp.

Chặng đường từ chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954 đến khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện năm 2024 là minh chứng lịch sử sinh động cho sức mạnh của sự thấu hiểu, lòng bao dung và tầm nhìn chiến lược. Từ nền tảng đó, quan hệ hai nước tiếp tục đi vào chiều sâu qua chuyến thăm cấp cao của lãnh đạo hai nước, tiến tới cùng thống nhất rằng quan hệ song phương cần phát triển ở một tầm mới, cả về mức độ lẫn phương thức, đáp ứng yêu cầu phát triển của mỗi bên.

Chiến tranh có thể để lại những vết thương sâu sắc, nhưng hòa bình, sự tôn trọng và tình hữu nghị chân thành hoàn toàn có thể lấp đầy những khoảng trống đó. Điều làm nên sức sống của quan hệ Việt - Pháp hôm nay không chỉ là những văn kiện được ký kết, mà là những con người cụ thể: người thầy thuốc từng học tập trong bệnh viện Pháp, sinh viên đang ngồi giảng đường USTH, nhà nghiên cứu bảo tồn kiến trúc chung, và người Việt xa xứ giữ gìn tiếng mẹ đẻ giữa Paris.

Khép lại chùm 5 kỳ, có thể thấy quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp được đặt trên ba trụ cột vững chắc: tin cậy chính trị, gắn kết kinh tế - công nghệ và sợi dây văn hóa - nhân văn. Trên nền tảng ấy, quan hệ hai nước có cơ sở để tiếp tục vươn xa, trở thành mô hình hợp tác bình đẳng, cùng phát triển giữa các quốc gia vượt qua rào cản lịch sử và khoảng cách địa lý.

Nguyễn Đình Thiện

Lê Mai Trang

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] VOV.VN, Chuyên mục “Người Việt tại Pháp” (Olympic Người Việt Nam tại Pháp 2026; triển lãm “Từ sông Seine đến sông Hồng” và Hiệp hội CCAVF), https://vov.vn/tu-khoa/nguoi-viet-tai-phap

[2] Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội - USTH (2025), USTH vinh dự đón Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Phu nhân cùng Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đến thăm và có buổi nói chuyện với sinh viên, trí thức trẻ Việt Nam, https://usth.edu.vn/usth-vinh-du-don-tong-thong-phap-emmanuel-macron-va-phu-nhan-cung-pho-chu-tich-nuoc-vo-thi-anh-xuan-den-tham-va-co-buoi-noi-chuyen-voi-sinh-vien-tri-thuc-tre-viet-nam-26200

[3] VUFO, Hội người Việt Nam tại Pháp hướng tới sự đổi mới vì cộng đồng (Đại hội lần thứ XVI), https://www.vufo.org.vn/Hoi-nguoi-Viet-Nam-tai-Phap-huong-toi-su-doi-moi-vi-cong-dong-25-97747.html

[4] VOV1 (11/9/2026), Thời sự 21h30: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Pháp, https://vov1.vov.vn/thoi-su/thoi-su-21h30/thoi-su-21h30-1192026-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-gap-go-cong-dong-nguoi-viet-nam-tai-phap-135312.vov

[5] Báo Lào Cai, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Pháp, https://baolaocai.vn/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-gap-go-cong-dong-nguoi-viet-nam-tai-phap-post391411.html

[6] Mekong ASEAN, Tổng thống Pháp sắp thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam, https://mekongasean.vn/tong-thong-phap-sap-tham-cap-nha-nuoc-toi-viet-nam-41722.html.

 

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất