Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Trần Quốc Hoàn (23/01/1916-23/01/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ôn lại cuộc đời cách mạng kiên trung, tận tụy của một Lãnh đạo mẫu mực, người chiến sĩ cộng sản trọn đời vì nước, vì dân. Từ tấm gương bền bỉ lao động và sáng tạo, học hỏi và nghiên cứu phát triển khoa học kỹ thuật từ không đến có, phong cách làm việc khoa học, sâu sát thực tiễn của cố Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân cần nỗ lực hơn nữa đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ trong mọi mặt công tác.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất núi Hồng sông Lam giàu truyền thống yêu nước, đồng chí Trần Quốc Hoàn sớm tham gia phong trào đấu tranh cách mạng và được Đảng, Nhà nước phân công giữ nhiều trọng trách quan trọng. Trong 70 năm tuổi đời (1916-1986), từng giữ nhiều vị trí lãnh đạo trọng yếu của Đảng và Nhà nước, đồng chí Trần Quốc Hoàn có đến 28 năm (1953-1980) là Bộ trưởng Bộ Công an. Với tầm nhìn chiến lược của người đứng đầu, tư duy sắc sảo xuất phát từ thực tiễn cách mạng, đồng chí đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các mặt công tác chiến đấu, xây dựng lực lượng Công an nhân dân, trong đó, đặc biệt coi trọng nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Thông qua những bài nói, bài viết, bài phát biểu chỉ đạo toàn diện của cố Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn cách đây nửa thế kỷ, quan điểm của đồng chí Trần Quốc Hoàn bộc lộ sâu sắc tinh thần say mê tìm tòi, xây dựng, phát triển và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào công tác công an. Đó không chỉ là tư duy vượt thời đại, tiên phong dám nghĩ sâu, làm lớn mà thể hiện tính chiến đấu, lòng tận trung cống hiến toàn bộ trí tuệ và sức lực cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh toàn diện.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và nhất là trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ cứu nước, đất nước ta đều phải đương đầu với những cường quốc về quân sự và kinh tế, khoa học kĩ thuật. Kẻ địch có các trang thiết bị về quân sự và điện tử rất hiện đại, trong khi đó, đất nước còn nghèo nàn, vũ khí, trang bị đều thô sơ, vì vậy đối với lực lượng Công an nhân dân thì ta phải chọn ngành khoa học kỹ thuật nào phục vụ đắc lực nhất cho công cuộc kháng chiến và bảo vệ an ninh Tổ quốc. Cố Bộ trưởng đã dự báo về công tác công an có những thuận lợi cơ bản nhưng cũng đối mặt với chồng chất khó khăn, thách thức: “Trình độ khoa học - kỹ thuật của loài người sẽ phát triển hết sức nhanh chóng. Những phát minh khoa học - kỹ thuật sẽ được ứng dụng trong mọi lĩnh vực kể cả hoạt động tình báo, phản gián, cho nên Công an chúng ta phải ra sức nghiên cứu đuổi kịp…”[1]. Vì vậy, ngay từ những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Trần Quốc Hoàn, khi còn là Giám đốc Nha Công an Trung ương đã đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ nhằm phục vụ cho công tác tình báo, trinh sát, bảo vệ an ninh chính trị. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Trần Quốc Hoàn, những cán bộ kỹ thuật đầu tiên đã bắt tay vào công việc với thiết bị thô sơ: máy thu phát điện quay tay bằng xe đạp, ống nghe lắp ghép, pin tự chế,…
Ngày 01/7/1954, tại bản Đung, xã Công Đa, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn công bố thành lập bộ phận công tác thuộc Văn phòng Trung ương Đảng mang bí danh “MATH” với 5 cán bộ đầu tiên, đặt mốc son lịch sử cho sự ra đời của lực lượng Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân. Dù trong hoàn cảnh nhiều khó khăn, lực lượng non trẻ này xây dựng được những bản tin đầu tiên thu được qua vô tuyến điện, đã cung cấp thông tin quan trọng cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước và giúp phá nhiều âm mưu gián điệp, biệt kích, thám báo do tình báo Mỹ và tay sai cài lại. Trên cơ sở đó, đồng chí Trần Quốc Hoàn đã quyết định thành lập Cục Trinh sát kỹ thuật phản gián và tình báo điện đài, đồng thời đặt vấn đề nhờ Liên Xô trang bị kỹ thuật và đào tạo cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ. Những tin tức phát hiện qua trinh sát kỹ thuật được thông báo kịp thời cho cấp ủy và an ninh miền Nam, đã giúp cho sự chỉ đạo của Đảng, đồng thời bảo vệ an toàn cơ quan đầu não của miền Nam, tránh được nhiều trận oanh tạc của phi pháo, máy bay B52 và các cuộc hành quân đánh phá của địch. Ngoài việc thành lập Cục Trinh sát kỹ thuật nghiệp vụ I và trên cơ sở đó đồng chí Bộ trưởng quyết định thành lập Viện Khoa học kỹ thuật hình sự.
Phát huy sức mạnh thời đại và mối quan hệ đoàn kết, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, tháng 1/1955, đồng chí Trần Quốc Hoàn đã đề xuất với Trung ương xin viện trợ từ Liên Xô để xây dựng một trạm phản gián điện đài và tình báo vô tuyến quy mô nhỏ, coi đó là mô hình thử nghiệm. Và đến năm 1959, ông báo cáo xin đầu tư quy mô lớn hơn - đó là công trình Phương Đông, hoàn tất năm 1962, trở thành cơ sở kỹ thuật hiện đại bậc nhất Đông Dương thời kỳ đó. Hoạt động của công trình đã góp phần trực tiếp vào việc nắm địch, đánh địch trên cả hai miền Nam - Bắc.
Cùng với kỹ thuật nghiệp vụ, đồng chí Bộ trưởng đặc biệt chú trọng tin học máy tính. Ngay từ năm 1960, khái niệm “tin học”, “dữ liệu điện tử” còn vô cùng mới mẻ ở Việt Nam, cả nước chỉ có vài máy tính IBM nhập từ Liên Xô thì đồng chí Bộ trưởng đã đặt vấn đề nghiên cứu tìm hiểu để sử dụng máy tính điện tử vào công tác công an, chỉ đạo phải nghiên cứu chu đáo, tìm hiểu kỹ để nắm được đặc điểm của lĩnh vực khoa học kỹ thuật định áp dụng; chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho việc ứng dụng tin học, khoa học kỹ thuật vào công tác công an; nghiên cứu kinh nghiệm ứng dụng máy tính điện tử của cơ quan an ninh, nội vụ một số nước Liên Xô, Đông Âu. Ban Máy tính bắt đầu xây dựng kho dữ liệu nghiệp vụ đầu tiên của ngành Công an, với tiêu chí: lưu trữ chính xác, truy vấn nhanh chóng, phục vụ kịp thời công tác điều tra, truy vết, phân tích an ninh. Không chỉ là người ra quyết sách, ông còn là người khai sinh thế hệ cán bộ công nghệ thông tin đầu tiên của lực lượng Công an nhân dân. Ngay từ năm 1973, ông ký văn bản cử các cán bộ trẻ đi đào tạo tin học tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và nước ngoài, đặc biệt tại Liên Xô và Cộng hòa Dân chủ Đức - nơi mà ngành mật vụ và phản gián đã phát triển tin học ứng dụng vào công tác an ninh từ rất sớm. Ông cũng chủ trương xây dựng cơ sở dữ liệu dân cư phục vụ an ninh quốc gia từ những năm cuối thập kỷ 70 - điều mà hơn 40 năm sau mới trở thành hiện thực với Dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, được Chính phủ triển khai mạnh mẽ trong thời đại chuyển đổi số hôm nay.
Trong suốt 28 năm là Bộ trưởng Bộ Công an và 10 năm giữ cương vị Hiệu trưởng Trường Công an Trung ương (1952-1962), đồng chí Trần Quốc Hoàn quan tâm chăm lo đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Trường đã mời các chuyên gia của Trung Quốc sang giảng dạy học phần nghiệp vụ, giúp đỡ biên soạn giáo trình và xây dựng chương trình, nội dung giảng dạy. Ngay từ năm 1958, đồng chí Trần Quốc Hoàn đã cử 6 cán bộ ưu tú đầu tiên sang Liên Xô học về nghiệp vụ kỹ thuật - những người sau này trở thành lãnh đạo cao cấp của ngành như các đồng chí Bùi Thiện Ngộ, Trần Quyết, Phạm Tâm Long…
Đối với Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, việc tổng kết kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn các mặt công tác Công an và nghiên cứu khoa học chính là con đường ngắn nhất, biện pháp tốt nhất, có hiệu quả nhất để phát triển lý luận CAND. Xuất phát từ quan điểm đó, ngày 6/1/1974, Bộ trưởng đã ký Quyết định thành lập Viện Nghiên cứu khoa học Công an và xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy nghiên cứu khoa học Công an đi vào nền nếp, có hiệu quả. Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn chính là người khai sinh hoạt động nghiên cứu khoa học Công an và là người sáng lập cơ quan nghiên cứu khoa học đầu ngành đầu tiên của CAND Việt Nam. Tư duy của Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đi từ không đến có, phải nỗ lực tìm tòi và sáng tạo dù từ những mầm mống bé nhỏ nhất, phải tự lực về kỹ thuật, làm chủ công nghệ, phục vụ an ninh Tổ quốc. Cho đến nay, chỉ đạo đó vẫn giữ nguyên giá trị thời sự, trở thành kim chỉ nam cho công cuộc chuyển đổi số và hiện đại hóa lực lượng CAND trong thời kỳ mới.
Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến hết sức phức tạp. Bên cạnh các yếu tố an ninh truyền thống, các quốc gia phải đối mặt với các đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu như: an ninh năng lượng, an ninh môi trường, an ninh thông tin, an ninh tài nguyên, khủng bố, vũ khí hạt nhân, di cư bất hợp pháp, tội phạm buôn người, tội phạm rửa tiền, tội phạm công nghệ cao... Trong đó, có việc các thế lực thù địch với nhiều thủ đoạn tinh vi và thâm độc, lợi dụng các thành tựu khoa học và công nghệ để chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây bất ổn ANCT và TTATXH của đất nước. Hoạt động chống phá của phản cộng gia tăng về quy mô, tần suất, mức độ nguy hiểm (tin xấu độc, xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước gia tăng 63,7% so với năm 2024 với nhiều chiến dịch truyền thống.
Vì vậy, trong thời gian tới, phát triển khoa học và công nghệ đối với ngành CAND cần xác định một số mục tiêu quan trọng và trọng tâm: 1-Triển khai quy hoạch tổng thể trung tâm dữ liệu của ngành CAND, triển khai Đề án chuyển đổi số toàn diện trong CAND đến năm 2030, xây dựng đơn vị số, chỉ huy số, cán bộ số, chuyển đổi số trong toàn lực lượng CAND; 2- Hoàn thành triển khai quản lý văn bản điều hành thông suốt từ Bộ đến tận cán bộ Công an xã 3- Tạo chuyển biến rõ nét về phát triển công nghiệp an ninh: vận hành hiệu quả Trung tâm dữ liệu quốc gia số 1, thúc đẩy hình thành hệ sinh thái, phấn đấu làm chủ một số công nghệ chiến lược; 4- Hình thành Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia, tạo lập bước đầu mối liên kết với Nhà trường - Viện nghiên cứu - Doanh nghiệp công nghiệp an ninh; hoàn thành xây dựng khu công nghiệp an ninh lưỡng dụng; thúc đẩy sản xuất một số sản phẩm lưỡng dụng, phục vụ nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng của đất nước.
Lê Mai Trang – Khoa Lịch sử Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị (1962), Nghị quyết số 40-NQ/TW về vấn đề củng cố và tăng cường lực lượng Công an (ngày 20/01/1962)
2. Đảng bộ Công an Trung ương, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VIII, H.2025.
3. Trần Quốc Hoàn, Xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh, xứng đáng là công cụ của chuyên chính vô sản, Nxb CAND, H.2015
[1] Trần Quốc Hoàn, Một số vấn đề về xây dựng lực lượng Công an nhân dân, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.287