Lý luận chính trị
Thứ Bảy, 10/10/2026 9:12'(GMT+7)

“CHUYỂN NGUỒN LỰC THÀNH NĂNG LỰC PHÁT TRIỂN” - TƯ DUY KINH TẾ CỦA HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XIV

 Nguồn lực là tiền đề của tăng trưởng, nhưng quy mô nguồn lực huy động được không đồng nghĩa với năng lực phát triển của một quốc gia. Vốn lớn, dự án nhiều, lao động dồi dào, tài nguyên phong phú mà phân bổ chưa hợp lý, sử dụng kém hiệu quả, không chuyển hóa được thành năng suất, công nghệ và sức cạnh tranh thì tăng trưởng khó bền. Với Việt Nam, sau bốn thập niên đổi mới, nền kinh tế đã có nền tảng để bước vào giai đoạn phát triển mới, song năng suất lao động, trình độ công nghệ, chất lượng nhân lực, sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước và hiệu quả đầu tư vẫn là những điểm yếu kéo dài. GDP chín tháng năm 2026 tăng 9,01% so với cùng kỳ[1], nhưng giải ngân đầu tư công chưa đạt yêu cầu, nhiều dự án kéo dài, đất đai và tài sản công chưa được khai thác hiệu quả cho thấy tốc độ tăng trưởng cao chưa đi cùng chất lượng tương xứng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (ngày 5 - 8/10/2026) đã thảo luận, quyết định nhiều vấn đề về xây dựng Đảng, quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước. Trong phát biểu bế mạc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu đưa nguồn lực đã huy động vào sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và năng lực phát triển; không để lãng phí vốn, đất đai, tài sản và cơ hội phát triển. Tư duy kinh tế xuyên suốt Hội nghị là chuyển trọng tâm từ quy mô huy động sang hiệu quả phân bổ, sử dụng và khả năng chuyển hóa nguồn lực thành năng lực phát triển thực chất. Nếu Đại hội XIV xác định đường lối, mục tiêu và định hướng chiến lược, thì các hội nghị Trung ương đầu nhiệm kỳ cụ thể hóa điều kiện chính trị, thể chế và nguồn lực để thực hiện. Trong tiến trình đó, Hội nghị Trung ương 4 có vai trò xác định ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội, chủ trương ngân sách năm 2027 và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.

1. Lấy hiệu quả sử dụng nguồn lực làm thước đo thay cho quy mô huy động

Trong một thời gian dài, kết quả kinh tế thường được đo bằng các con số đầu vào: tổng vốn đầu tư toàn xã hội, vốn FDI đăng ký, kế hoạch vốn được giao, dư nợ tín dụng. Những chỉ số ấy không sai, nhưng chúng đo lường khả năng huy động chứ không đo lường kết quả. Hội nghị Trung ương 4 đã đặt lại thước đo với quan điểm xuyên suốt: nguồn lực đã huy động phải được đưa vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm và năng lực phát triển; chất lượng tăng trưởng được đánh giá qua năng suất, sức khỏe của doanh nghiệp, thu nhập và đời sống nhân dân.

Tại phiên bế mạc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu: “Không để lãng phí vốn, đất đai, tài sản và cơ hội”. Lãng phí không chỉ là lãng phí vốn, đất đai, tài sản, những thứ có thể kiểm đếm và định giá. Lãng phí còn là lãng phí cơ hội phát triển: một tuyến đường chậm hai năm là hai năm chi phí logistics của cả một vùng không giảm; một khu công nghiệp vướng giải phóng mặt bằng là một làn sóng đầu tư đi sang địa phương khác hoặc nước khác; một dự án năng lượng chậm tiến độ là nguy cơ thiếu điện trong mùa cao điểm, kéo theo cả sản xuất và niềm tin của nhà đầu tư.

Vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước năm 2026 được Thủ tướng Chính phủ giao là 1.022.607 tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay. Đến ngày 1/10/2026, lũy kế giải ngân đạt 644.013,5 tỷ đồng, bằng 63% kế hoạch.[2] Tốc độ này nhanh hơn cùng kỳ các năm trước, nhưng cũng có nghĩa là gần 380 nghìn tỷ đồng phải được giải ngân trong một quý cuối năm, trong khi một số bộ, ngành, địa phương vẫn ở mức thấp hơn nhiều so với bình quân chung. Với các dự án tồn đọng, kéo dài, qua rà soát đến ngày 31/7/2026, cả nước có 4.619 dự án, vụ việc liên quan đến đất đai và đầu tư gặp khó khăn, vướng mắc; trong đó 3.984 dự án đã được phân loại thành sáu nhóm để xử lý, số còn lại đang tiếp tục rà soát.[3] Tổng Bí thư, Chủ tịch nước thẳng thắn chỉ ra rằng “giải ngân, xử lý dự án tồn đọng còn chậm”. Đằng sau hàng nghìn dự án ấy là đất đai bỏ hoang, công trình dở dang, vốn vay phải trả lãi và tâm lý sợ trách nhiệm, không dám quyết của một bộ phận cán bộ.

Hội nghị yêu cầu giải ngân phải gắn với khối lượng, chất lượng thực tế, không chạy theo con số giải ngân bằng cách tạm ứng, chuyển nguồn hay nghiệm thu hình thức; hiệu quả chi ngân sách phải được “đánh giá hiệu quả chi bằng kết quả thực tế, gắn trách nhiệm phân bổ với sử dụng”, như lời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại phiên bế mạc. Để yêu cầu này đi vào thực tiễn, cần có công cụ đo lường tương ứng.

2. Lựa chọn đúng ưu tiên trong mục tiêu tăng trưởng và phân bổ ngân sách năm 2027

Trung ương thống nhất mục tiêu năm 2027 ở mức cao: phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4,5%, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gọi đây là năm phải “tăng tốc, bứt phá, chuyển biến mạnh mẽ”. Điều đáng chú ý không phải là con số 10%, mà là điều kiện đi kèm con số ấy. Theo Tổng Bí thư: “Tăng trưởng cao phải dựa trên năng suất, sức cạnh tranh, năng lực tự chủ và nền tảng ổn định lâu dài.”  Yêu cầu này phân biệt rõ hai con đường đi tới tăng trưởng hai con số:

Con đường thứ nhất là bơm vốn: mở rộng tín dụng, tăng chi đầu tư, nới lỏng điều kiện để đẩy nhanh các dự án, chấp nhận lạm phát và nợ công cao hơn. Con đường này cho kết quả nhanh nhưng mỏng; khi vốn ngừng chảy, tăng trưởng cũng dừng, để lại áp lực giá cả và các khoản nợ.

Con đường thứ hai đi qua năng suất và sức cạnh tranh: tăng trưởng đến từ việc doanh nghiệp làm ra nhiều giá trị hơn trên cùng một đơn vị vốn và lao động, từ công nghệ, từ thị trường mới và từ chi phí giao dịch thấp hơn. Con đường này chậm hơn ở những bước đầu nhưng bền hơn và quan trọng, không làm thu hẹp thêm dư địa điều hành vĩ mô vốn đã hẹp. Trung ương lựa chọn con đường thứ hai, và vì thế mục tiêu 10% không phải là một chỉ tiêu bơm vốn mà là một chỉ tiêu về cải cách.

Hội nghị thông qua chủ trương cân đối ngân sách năm 2027 và tỷ lệ phân chia nguồn thu giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương, trên bốn nguyên tắc. Một là, huy động nguồn thu gắn với nuôi dưỡng nguồn thu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh ngay từ phiên khai mạc: “Huy động nguồn thu phải gắn với nuôi dưỡng nguồn thu, phát triển doanh nghiệp”.[4] Tăng thu không được đồng nghĩa với tận thu; nguồn thu bền vững duy nhất là doanh nghiệp khỏe và sản xuất mở rộng. Hai là, tiết kiệm ngay từ khâu phân bổ, chứ không chỉ tiết kiệm ở khâu chi tiêu; một khoản chi dàn trải đã là lãng phí từ lúc được đưa vào dự toán. Ba là, rà soát các quy định về tỷ lệ bố trí chi ngân sách cho ngành, lĩnh vực và không ban hành thêm các quy định này. Đây là điểm đáng chú ý về mặt kỹ thuật ngân sách: khi mỗi ngành đều có một tỷ lệ “cứng” được luật định, phần ngân sách có thể điều chỉnh theo ưu tiên thực tế ngày càng co lại, và chính quyền mất đi khả năng dồn lực cho việc cấp bách. Bốn là, bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương đồng thời phát huy tính chủ động của địa phương, nhất là trong bối cảnh các tỉnh, thành phố sau sáp nhập có quy mô và dư địa lớn hơn.

3. Gắn thu hút nguồn lực với liên kết, lan tỏa giữa các khu vực kinh tế và phát triển khoa học, công nghệ

Sau thước đo và ưu tiên, vấn đề tiếp theo là cấu trúc: nguồn lực của các khu vực kinh tế phải liên kết với nhau như thế nào để tạo ra hiệu quả tổng hợp. Hội nghị không đặt ra một yêu cầu chung chung về “huy động mọi nguồn lực”, mà xác định yêu cầu cụ thể đối với từng loại nguồn lực, có thể tóm lược như sau:

 

 

Nguồn: Tổng hợp từ phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, ngày 8/10/2026

Đầu tư công đi trước, mở đường và tạo nền hạ tầng để đầu tư tư nhân có thể đi theo; đầu tư tư nhân phát triển thì doanh nghiệp trong nước đủ lớn để liên kết với khu vực FDI; FDI gắn với chuyển giao công nghệ thì năng lực công nghệ nội địa tăng lên và khoa học, công nghệ là nhân tố nhân lên hiệu quả của cả ba khu vực. Về mắt xích đầu tiên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ: “Đầu tư công phải dẫn dắt đầu tư xã hội, kết nối vùng, mở rộng năng lực sản xuất”. Chữ “dẫn dắt” ở đây có nghĩa đầu tư công không nhằm thay thế đầu tư tư nhân, càng không nhằm cạnh tranh với nó, mà tạo ra những điều kiện để mỗi đồng vốn công kéo theo nhiều đồng vốn xã hội.

Hội nghị thông qua Quy định của Trung ương về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh. Đây là lần đầu tiên vấn đề này được điều chỉnh bằng một quy định riêng của Ban Chấp hành Trung ương, với tinh thần khuyến khích làm giàu chính đáng đi đôi với kiểm soát xung đột lợi ích. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt yêu cầu “gắn tính tiên phong trong phát triển kinh tế với giữ vững bản chất của Đảng”, và nêu rõ “Cần làm rõ quyền, điều kiện, giới hạn phù hợp với địa vị pháp lý, chức trách và nguy cơ xung đột lợi ích”. Điểm đáng chú ý nhất của Quy định nằm ở phương pháp kiểm soát: “Kiểm soát phải căn cứ quyền sở hữu, quyền chi phối, lợi ích thực tế, không chỉ người đứng tên”. Cách tiếp cận này khép lại kẽ hở lâu nay, khi tài sản và doanh nghiệp được đứng tên người thân hoặc người được ủy thác, trong khi quyền chi phối và lợi ích thực tế vẫn thuộc về cán bộ, đảng viên có chức vụ. Và xung đột lợi ích, theo yêu cầu của Trung ương, “phải được báo cáo, xử lý đúng thẩm quyền, không dừng ở kê khai”. Với tư duy kinh tế của Hội nghị, Quy định này có ý nghĩa kép: vừa giải phóng năng lực kinh doanh của một bộ phận đảng viên không giữ chức vụ, vừa bảo đảm rằng “Không để quyền lực, thông tin, tài sản công trở thành lợi thế riêng”.

Phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công đối với đầu tư xã hội, tập trung vào hạ tầng kết nối vùng, năng lượng và hạ tầng số, những thứ mà tư nhân không làm hoặc chưa làm được. Gắn thu hút đầu tư nước ngoài với chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước bằng các công cụ cụ thể: ưu đãi theo tỷ lệ nội địa hóa thực tế, chương trình phát triển nhà cung ứng, cơ chế đồng tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển có sự tham gia của doanh nghiệp Việt. Tăng cường liên kết giữa nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, để “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phải nâng cao năng suất, sức cạnh tranh”, như yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, chứ không dừng ở đề tài nghiệm thu và công bố. Các yêu cầu này nhất quán với Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài[5], trong đó tư duy đã chuyển từ “thu hút vốn” sang “phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”, lấy chất lượng, công nghệ, liên kết và lan tỏa làm tiêu chí chọn lọc. Hội nghị Trung ương 4 đưa tinh thần ấy lên cấp độ chung cho mọi nguồn lực: thu hút chỉ có ý nghĩa khi đi cùng liên kết và lan tỏa.

4. Giải pháp hiện thực hóa tư duy kinh tế của Hội nghị Trung ương 4

Thống nhất nhận thức. Việc quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 cần đi vào đúng trọng tâm: lấy kết quả sử dụng nguồn lực làm thước đo đánh giá, thay vì coi trọng quy mô vốn được giao hơn hiệu quả sử dụng. Sự thay đổi thước đo này liên quan đến thói quen báo cáo, thói quen xin vốn và cả thói quen đánh giá cán bộ, nên phải được làm rõ ngay từ nhận thức của người đứng đầu các cấp. Trong công tác tư tưởng, cần tránh biến tư duy mới thành một bộ khẩu hiệu mới; điều cần làm là để mỗi cấp ủy, mỗi cơ quan tự trả lời câu hỏi mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra: nguồn lực mình đang nắm giữ đã chuyển thành năng lực gì, cho ai?

Thể chế hóa kịp thời, đồng bộ. Phát biểu bế mạc nêu nguyên tắc: “Đường lối của Đảng phải được thể chế hóa thành pháp luật, chính sách đúng tinh thần, thống nhất và khả thi”. Để làm được điều đó, cần xác định rõ danh mục luật, chính sách phải sửa đổi, bổ sung, cơ quan chủ trì và thời hạn hoàn thành, trước hết là các quy định về đầu tư công, ngân sách nhà nước, đất đai, đấu thầu và quản lý tài sản công. Đảm bảo tính đồng bộ: tháo gỡ ở lĩnh vực này nhưng lại phát sinh vướng mắc ở lĩnh vực khác là căn bệnh lâu nay của quá trình sửa luật theo từng ngành. Cũng không để lợi ích cục bộ, thủ tục phát sinh làm thu hẹp chủ trương; một chủ trương thông thoáng ở cấp Trung ương có thể bị “thu hẹp” qua từng tầng nghị định, thông tư và hướng dẫn, đến cơ sở chỉ còn lại một phần.

Đổi mới phân bổ và sử dụng nguồn lực công. Chuyển dần sang phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra, với các chỉ tiêu kết quả được xác định trước khi bố trí vốn và được đánh giá khi quyết toán; thực hành tiết kiệm ngay từ khâu phân bổ bằng cách loại bỏ các dự án chưa đủ thủ tục, chưa rõ hiệu quả ra khỏi dự toán thay vì ghi vốn rồi điều chuyển. Phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công đối với đầu tư xã hội thông qua các hình thức đối tác công tư được thiết kế minh bạch, chia sẻ rủi ro hợp lý. Xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng theo từng nhóm đã phân loại, với nguyên tắc rõ ràng: cái nào có thể tiếp tục thì tháo gỡ để tiếp tục, cái nào không thể tiếp tục thì chấm dứt và thu hồi, không để vốn, đất đai, tài sản tiếp tục nằm chờ thêm một chu kỳ nữa.

Nâng cao năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu: “Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đi cùng nâng cao năng lực hấp thụ vốn, bảo đảm hạ tầng, năng lượng, nhân lực”. Thể chế thông thoáng mà hạ tầng quá tải, điện thiếu, nhân lực không đáp ứng thì vốn vẫn không thể chảy vào sản xuất. Vì vậy, các giải pháp cần tập trung vào ba điều kiện ấy: hạ tầng giao thông và logistics liên vùng, an ninh năng lượng cho giai đoạn tăng trưởng cao, và nhân lực kỹ thuật cho các ngành công nghệ. Cùng với đó là khơi thông đầu tư tư nhân bằng cải cách thực chất về thủ tục, tiếp cận đất đai và tín dụng; củng cố sức mua trong nước thông qua thu nhập và an sinh; gắn thu hút FDI với chuyển giao công nghệ; và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số như nhân tố nâng cao năng suất của toàn bộ nền kinh tế.

Tăng cường kiểm tra, giám sát và bảo đảm an ninh kinh tế. Yêu cầu của Trung ương là “Giám sát thường xuyên, cảnh báo sớm, ngăn chặn cả lạm quyền và né tránh trách nhiệm”. Khi thước đo không rõ, người thì lợi dụng kẽ hở để trục lợi, người thì không dám làm gì để tránh rủi ro; cả hai đều khiến nguồn lực không chuyển thành năng lực. Vì vậy, kiểm tra, giám sát phải chuyển từ hậu kiểm sai phạm sang đánh giá kết quả thực hiện từng quyết sách, từ phát hiện vi phạm sang cảnh báo sớm và bảo vệ người dám làm. Kiểm soát xung đột lợi ích theo Quy định mới của Trung ương cần được thực thi thực chất, với sự phối hợp giữa cơ quan kiểm tra Đảng, thanh tra, kiểm toán và lực lượng Công an trong bảo đảm an ninh kinh tế. Việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng cao chính là bảo vệ một trụ cột của an ninh quốc gia; các rủi ro về nợ, về bong bóng tài sản, về phụ thuộc chuỗi cung ứng, về thao túng chính sách bởi nhóm lợi ích đều phải được nhận diện từ sớm, từ xa.

Phát huy vai trò của Nhân dân. Mọi nguồn lực của đất nước đều là của Nhân dân và vì Nhân dân. Trung ương yêu cầu “Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội tăng cường vận động, giám sát, phản biện”, và “bảo đảm Nhân dân được tham gia, thụ hưởng thành quả”. Giám sát của Nhân dân đối với các dự án đầu tư công, đối với việc sử dụng đất đai và tài sản công ở cơ sở là kênh phát hiện lãng phí sớm nhất và rẻ nhất. Và việc quan tâm người yếu thế, vùng khó khăn không phải là phần “chi phí” của tăng trưởng, mà là điều kiện để tăng trưởng cao được xã hội đồng thuận và duy trì lâu dài. Một nền kinh tế tăng trưởng hai con số nhưng để lại một bộ phận dân cư bên lề sẽ không bền, cả về kinh tế lẫn về chính trị.

Kết luận

Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đánh dấu một bước chuyển trong tư duy kinh tế của Đảng: từ ưu tiên huy động sang ưu tiên sử dụng, từ đo lường đầu vào sang đo lường kết quả, từ thu hút nguồn lực sang liên kết và lan tỏa nguồn lực. Yêu cầu “chuyển nguồn lực thành năng lực phát triển” không mới về cách diễn đạt, nhưng mới ở chỗ nó được đặt làm thước đo chung cho công tác điều hành, cho phân bổ ngân sách, cho chính sách đầu tư và cho việc đánh giá cán bộ. Tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Phải đưa nguồn lực đã huy động vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm và năng lực phát triển”[6].

Nguồn lực là tiền đề vật chất; nhưng chuyển nguồn lực thành năng lực là chuyện của thể chế, của tổ chức, của con người. Khi quan hệ phân bổ và sử dụng nguồn lực còn mang tính xin cho, dàn trải và thiếu trách nhiệm, thì dù nguồn lực có nhiều, năng lực cũng không tăng tương ứng. Hội nghị Trung ương 4 đã chỉ đúng chỗ cần thay đổi. Phần còn lại, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhắc nhở, là mỗi quyết sách phải có cách kiểm chứng kết quả và người đứng đầu các cấp phải sẵn sàng được kiểm chứng.

 Nguyễn Thị Hoài Thu

Nguyễn Đình Thiện

 

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (2026), Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ tư của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Hà Nội, ngày 5/10/2026.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (2026), Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Hà Nội, ngày 8/10/2026.

3. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

5. Bộ Tài chính (2026), Báo cáo số 15921/BTC-ĐTPT ngày 07/10/2026 về tình hình giải ngân vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước năm 2026, lũy kế đến ngày 01/10/2026.

6. Thủ tướng Chính phủ (2026), Công điện số 58/CĐ-TTg ngày 22/8/2026 về rà soát, phân loại, đề xuất giải pháp xử lý các dự án, đất đai tồn đọng, vướng mắc.

7. Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026, công bố ngày 03/10/2026.



[1] Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026.

[2] Bộ Tài chính (2026), Báo cáo số 15921/BTC-ĐTPT ngày 07/10/2026 về tình hình giải ngân vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước lũy kế đến ngày 01/10/2026.

[3] Số liệu tổng hợp trên Hệ thống 751 của Bộ Tài chính tính đến ngày 31/7/2026.

[4] Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Hà Nội, ngày 5/10/2026.

[5] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

[6] Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Hà Nội, chiều 8/10/2026.

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất