KỲ 2: KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - ĐỘNG LỰC BỨT PHÁ TẦM NHÌN 2045
Kỳ 1 của chùm bài đã phác họa diện mạo Việt Nam năm 2045 với những đường nét nổi bật: quốc gia phát triển, thu nhập cao, đứng trong nhóm 20-25 nền kinh tế lớn nhất thế giới, nhưng lấy con người làm trung tâm và không để ai bị bỏ lại phía sau. Mỗi mét đường sắt tốc độ cao, mỗi trường học ở vùng biên, mỗi đồng trợ cấp an sinh xã hội đều phải được tạo ra trước khi được phân phối. Vì vậy, trong ba trụ cột làm nên mẫu hình 2045, trụ cột kinh tế được đặt ở vị trí đầu tiên. Kỳ 2 đi sâu vào phân tích trụ cột này để trả lời câu hỏi: Việt Nam sẽ tạo ra của cải bằng cách nào, dựa trên những động lực nào và vì ai?
Trong hơn một trăm nền kinh tế bước vào ngưỡng thu nhập trung bình từ sau năm 1960, chỉ có khoảng mười nền kinh tế vượt lên được nhóm thu nhập cao[1]; phần còn lại dừng ở khúc quanh khi lao động giá rẻ không còn rẻ, tài nguyên không còn dồi dào, trong khi năng lực công nghệ và thể chế chưa kịp thay đổi. Việt Nam hôm nay đang đứng ở khúc quanh đó. Câu trả lời chiến lược mà Đảng ta lựa chọn không phải là sao chép một mô hình kinh tế có sẵn ở phương Tây hay phương Đông, mà là tiếp tục hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: một kiểu tổ chức kinh tế vận hành đầy đủ theo các quy luật của thị trường, nhưng được dẫn dắt bởi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
1. Đổi mới lực lượng sản xuất -Thực hiện bứt phá bằng tri thức và công nghệ lõi
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) lần đầu tiên xác lập một lộ trình phát triển với ba mốc thời gian: đến năm 2025 là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao[2]. Nghị quyết Đại hội XIV (tháng 01/2026) đã thể hiện quyết tâm ấy bằng những con số: tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 28% GDP; kinh tế số với tỷ trọng khoảng 30% GDP; năng suất lao động tăng khoảng 8,5%/năm; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng trên 55%[3]. Chín tháng đầu năm 2026, GDP tăng trên 9%, và Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV yêu cầu năm 2027 phải “tăng tốc, bứt phá, chuyển biến mạnh mẽ, tạo đà thực hiện mục tiêu cả nhiệm kỳ”[4]. Tăng trưởng nhanh phải là tăng trưởng của một mô hình mới, nơi tri thức và công nghệ thay thế lao động rẻ và tài nguyên làm nguồn gốc chủ yếu của giá trị.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao
Trong 40 năm Đổi mới, động lực chủ yếu của tăng trưởng Việt Nam đến từ việc giải phóng các nguồn lực bị kìm hãm: đất đai được giao cho nông dân, lao động nông thôn chuyển sang công nghiệp và dịch vụ, vốn trong dân và vốn nước ngoài được huy động vào sản xuất. Khi tỷ lệ lao động nông nghiệp đã giảm xuống, khi vốn đầu tư toàn xã hội đã ở mức cao so với khu vực, tăng trưởng tiếp theo chỉ có thể đến từ việc sử dụng các nguồn lực ấy hiệu quả hơn. Lực lượng sản xuất của Việt Nam vì thế phải trải qua một cuộc thay đổi về chất, trên hai hướng cơ bản:
Chuyển đổi các trụ cột tăng trưởng
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị (tháng 12/2024) xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu”, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất và đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Đây là lần đầu tiên một nghị quyết của Đảng gắn trực tiếp công nghệ với phạm trù lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, coi đây không chỉ là một ngành, một lĩnh vực mà là nhân tố làm thay đổi phương thức sản xuất của toàn xã hội. Theo đó, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn trở thành ba động lực tăng trưởng chính thay cho mô hình thâm dụng lao động và vốn.
Các mục tiêu của Nghị quyết 57 đã được lượng hóa: Đến năm 2030, kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; chi cho nghiên cứu và phát triển đạt 2% GDP, trong đó hơn 60% từ khu vực ngoài nhà nước; Việt Nam thuộc nhóm ba nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo; xuất khẩu công nghệ cao chiếm ít nhất 50% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Đến năm 2045, kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP, Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, có ít nhất 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến[5]. Con số 50% GDP cho kinh tế số năm 2045 chính là cơ sở để Kỳ 1 vẽ nên hình ảnh một nền kinh tế mà tri thức và dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất chủ yếu.
Một nền kinh tế thu nhập cao không thể chỉ có các khu công nghiệp lắp ráp; nó cần những ngành có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn, lan tỏa công nghệ và kéo theo hệ sinh thái doanh nghiệp vệ tinh. Định hướng của Đảng và Nhà nước đã khoanh vùng các ngành: công nghiệp bán dẫn, với lợi thế từ vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc; trí tuệ nhân tạo và công nghiệp dữ liệu; năng lượng mới và năng lượng tái tạo, bao gồm cả điện hạt nhân thế hệ mới được tái khởi động; công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp và y tế; công nghiệp đường sắt gắn với dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam; công nghiệp quốc phòng, an ninh lưỡng dụng. Điểm chung của các ngành này là đòi hỏi đầu tư dài hạn, rủi ro cao và phần lớn nằm ở biên giới công nghệ nơi thị trường tự nó khó hình thành trong giai đoạn đầu. Đây cũng chính là địa bàn mà vai trò “mở đường” của kinh tế nhà nước được thể hiện rõ nhất.
Tăng trưởng dựa trên năng suất
Chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP) đóng góp trên 55% vào tăng trưởng, được nêu đồng thời trong Nghị quyết 57 và Nghị quyết Đại hội XIV, là thước đo của sự chuyển đổi mô hình. TFP phản ánh phần tăng trưởng không đến từ việc bỏ thêm vốn hay thêm lao động, mà từ công nghệ, quản trị, thể chế và chất lượng con người.
Năng suất lao động của Việt Nam năm 2025 tăng 6,83%[6], mức cao so với khu vực nhưng vẫn chưa đạt ngưỡng 8,5%/năm mà Đại hội XIV đề ra. Khoảng cách này chỉ có thể lấp đầy bằng sự thay đổi căn bản trong cơ cấu lao động: từ lực lượng lao động phổ thông chiếm số đông sang đội ngũ kỹ sư, chuyên gia và công nhân kỹ thuật có khả năng làm chủ công nghệ. Các chương trình đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn, phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo và thu hút chuyên gia người Việt ở nước ngoài đều nhằm vào mục tiêu này. Đây là sự chuyển dịch về chất của chính yếu tố người lao động trong lực lượng sản xuất: khi tri thức trở thành nguồn tạo giá trị chủ yếu, người lao động không còn đơn thuần là người “bán sức lao động” mà ngày càng trở thành chủ thể sáng tạo, nắm giữ phần tư liệu sản xuất quan trọng nhất là năng lực trí tuệ của chính mình.
2. Hoàn thiện quan hệ sản xuất và định vị vai trò các thành phần kinh tế
Hiến pháp năm 2013 khẳng định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không triệt tiêu hay phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, mà giải phóng tối đa mọi nguồn lực xã hội thông qua sự phân công và hợp tác bình đẳng. Trong hai năm 2025-2026, ba nghị quyết lớn của Bộ Chính trị đã lần lượt định vị lại từng thành phần: Nghị quyết 68 về kinh tế tư nhân; Nghị quyết 10 về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; Nghị quyết số 79 về kinh tế Nhà nước với các chủ trương về cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước. Đặt cạnh nhau, chúng tạo thành một bản thiết kế khá hoàn chỉnh về sự phân công giữa các khu vực cho chặng đường tới năm 2045.
Kinh tế Nhà nước - Vai trò “mở đường” và bảo đảm an ninh chiến lược
Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong mô hình 2045 không được hiểu theo nghĩa chiếm tỷ trọng lớn nhất hay hiện diện ở mọi lĩnh vực. Kinh nghiệm ba thập niên cổ phần hóa cho thấy, ở những ngành mà tư nhân có thể làm tốt, sự hiện diện của doanh nghiệp nhà nước thường kém hiệu quả. Chủ đạo, theo cách hiểu đang được hoàn thiện, là nắm giữ những “mạch máu” mà toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào: hạ tầng chiến lược như đường sắt tốc độ cao, lưới điện truyền tải, hạ tầng số quốc gia; các ngành công nghệ lõi có độ rủi ro cao mà tư nhân chưa đủ sức đầu tư; các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quốc phòng, an ninh và các công cụ để Nhà nước bảo đảm những cân đối lớn, ổn định kinh tế vĩ mô khi có biến động.
Kinh tế nhà nước đi trước vào những nơi thị trường chưa đến, tạo nền tảng cho các khu vực khác phát triển, rồi từng bước rút ra khi thị trường đã trưởng thành. Để làm được điều đó, doanh nghiệp nhà nước phải được quản trị theo chuẩn mực hiện đại, được giao quyền tự chủ thực chất đi đôi với trách nhiệm giải trình, được đánh giá bằng hiệu quả tổng thể chứ không phải bằng từng dự án riêng lẻ. Yêu cầu của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV về việc chuyển các nguồn lực công thành năng lực sản xuất thực tế, nâng cao khả năng hấp thụ vốn, nhằm chính vào khu vực này.
Kinh tế tư nhân - Động lực quan trọng nhất của nền kinh tế
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị đánh dấu bước chuyển về nhận thức có ý nghĩa lịch sử khi khẳng định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; đồng thời yêu cầu xóa bỏ triệt để định kiến về kinh tế tư nhân, bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng các nguồn lực, nhất là vốn, đất đai và công nghệ. Nếu Đại hội VI năm 1986 mới thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân, Đại hội XII và XIII xác định đây là “một động lực quan trọng”, thì Nghị quyết 68 đã đưa khu vực này lên vị trí “quan trọng nhất”.
Các mục tiêu của Nghị quyết 68: đến năm 2030, cả nước có khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, tương đương 20 doanh nghiệp trên 1.000 dân; ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; khu vực tư nhân tăng trưởng 10-12%/năm, đóng góp 55-58% GDP, 35-40% tổng thu ngân sách và giải quyết việc làm cho 84-85% lực lượng lao động. Đến năm 2045, có ít nhất 3 triệu doanh nghiệp, đóng góp trên 60% GDP, có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế[7]. Những con số này đã được Quốc hội thể chế hóa bằng Nghị quyết số 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, cùng hàng loạt luật sửa đổi về đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, tín dụng. Chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ “xin - cho” sang công bố điều kiện và để doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm; không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự; bảo vệ quyền sở hữu và quyền tự do kinh doanh như những quyền hiến định. Trong mô hình 2045, kinh tế tư nhân không chỉ đóng góp phần lớn GDP mà còn phải sinh ra những tập đoàn mang thương hiệu Việt có khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng khu vực, làm chủ công nghệ và cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường thế giới.
Kinh tế FDI và kinh tế tập thể - Mắt xích kết nối và phát triển bền vững
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp to lớn vào công nghiệp hóa, xuất khẩu và việc làm, nhưng cũng để lại một bài học: nếu chỉ thu hút vốn mà không gắn với chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước, một quốc gia có thể tăng trưởng nhanh về quy mô mà vẫn giậm chân ở khâu gia công. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị đã đổi tên gọi của vấn đề, từ “thu hút đầu tư nước ngoài” sang “phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”, coi đây là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, được đối xử bình đẳng với các thành phần khác, nhưng phải gắn với năng lực tự chủ chiến lược của đất nước.
Các mục tiêu đến năm 2030 của Nghị quyết 10 thể hiện rõ sự chuyển hướng từ lượng sang chất: tỷ lệ nội địa hóa bình quân trong các ngành chủ lực đạt 45-50%; khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của khu vực FDI, trong đó có 500-1.000 nhà cung ứng cấp một; ít nhất ba tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở hoặc trung tâm nghiên cứu - phát triển tại Việt Nam; khoảng 75% vốn FDI đến từ các nền kinh tế phát triển. Đến năm 2045, khu vực này chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và khoảng 30% GDP, gắn kết hữu cơ với khu vực nhà nước và tư nhân trong nước[8]. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu “thu hút đầu tư nước ngoài phải gắn với chuyển giao công nghệ, liên kết doanh nghiệp và nâng giá trị gia tăng trong nước”[9].
Kinh tế tập thể không còn là “người lính gác” của mô hình cũ mà là bệ đỡ cho nông nghiệp sinh thái và kinh tế nông thôn. Khi nông nghiệp chuyển sang sản xuất quy mô lớn, truy xuất nguồn gốc, đáp ứng tiêu chuẩn xanh của các thị trường khó tính, hàng triệu hộ nông dân nhỏ chỉ có thể tham gia chuỗi giá trị thông qua các hợp tác xã đủ mạnh về vốn, công nghệ và quản trị. Hợp tác xã kiểu mới, gắn với doanh nghiệp đầu chuỗi là cách để người nông dân giữ được vị thế làm chủ trên chính mảnh đất của mình và là mắt xích bảo đảm tính bao trùm của phát triển ở khu vực nông thôn.
Quan hệ sản xuất cho năm 2045 là một cấu trúc nhiều tầng, trong đó mỗi khu vực sẽ đảm nhận phần việc của mình: kinh tế nhà nước mở đường và giữ các mạch máu chiến lược; kinh tế tư nhân là động lực chủ yếu tạo của cải, việc làm và sức cạnh tranh; kinh tế FDI là kênh tiếp nhận công nghệ và kết nối với thị trường toàn cầu; kinh tế tập thể bảo đảm tính bao trùm ở nông thôn. Sự phân công này không được áp đặt bằng mệnh lệnh hành chính mà được định hình qua thể chế, chính sách và cạnh tranh bình đẳng.
3. “Giải mã” định hướng xã hội chủ nghĩa - Sự hòa quyện giữa thị trường và công bằng xã hội
Suốt nhiều thập niên, không ít ý kiến hoài nghi về khả năng kết hợp giữa “thị trường” và “định hướng xã hội chủ nghĩa”, coi đó là sự ghép nối của hai nguyên lý trái ngược. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát một cách thuyết phục: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”[10]. Cách tiếp cận này không phủ nhận thị trường, cũng không tuyệt đối hóa nó: thị trường là phương thức phân bổ nguồn lực hiệu quả nhất mà nhân loại tìm ra được cho đến nay, còn định hướng xã hội chủ nghĩa là kim chỉ nam bảo đảm thành quả của sự phân bổ ấy phục vụ toàn thể nhân dân. Trong thực tiễn hướng tới năm 2045, tính định hướng ấy thể hiện ở ba khía cạnh:
Phân phối công bằng
Văn kiện Đại hội XIII xác định quan hệ phân phối phải bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội[11]. Đây là điểm khác biệt căn bản so với mô hình “tăng trưởng trước, phân phối sau” mà nhiều nước tư bản đã đi qua với cái giá là những thập niên phân hóa xã hội sâu sắc. Trong mô hình Việt Nam, công bằng không phải là thứ chờ khi đã giàu mới tính đến, mà được lồng vào từng chính sách ngay từ đầu: tốc độ cải thiện thu nhập của nhóm yếu thế phải nhanh hơn mức trung bình; thuế thu nhập, thuế tài sản được thiết kế để điều tiết hợp lý; nguồn lực từ tăng trưởng được dành cho giáo dục, y tế và an sinh ở những vùng khó khăn nhất.
Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng
Cam kết đạt phát thải ròng bằng không vào năm 2050 đã được cụ thể hóa trong Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu[12] và đang được chuyển hóa thành các quyết định đầu tư cụ thể: dừng phát triển mới các nhà máy nhiệt điện than, mở rộng năng lượng tái tạo, tái khởi động điện hạt nhân[13], xây dựng thị trường tín chỉ carbon, kiên quyết loại bỏ các dự án thâm dụng tài nguyên và gây ô nhiễm. Nền kinh tế 2045 mà Kỳ 1 đã mô tả, với kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng không là điều kiện để duy trì năng lực cạnh tranh khi các thị trường lớn nhất thế giới đều đã dựng lên những hàng rào xanh.
Nhà nước kiến tạo và điều tiết
Thị trường có những khuyết tật cố hữu: khủng hoảng chu kỳ, đầu cơ, độc quyền, ngoại ứng tiêu cực và xu hướng làm gia tăng bất bình đẳng. Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là can thiệp vào từng quyết định của doanh nghiệp, mà là xây dựng thể chế, cung cấp hạ tầng và hàng hóa công, ổn định kinh tế vĩ mô, khắc phục các thất bại của thị trường, định hướng nguồn lực vào các mục tiêu chiến lược. Yêu cầu ấy đòi hỏi một Nhà nước đủ mạnh để điều tiết nhưng cũng đủ kỷ luật để không bị lợi ích nhóm thao túng. Lời cảnh báo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, “không để quyền lực, thông tin, tài sản công trở thành lợi thế riêng”[14].
Động lực cho chặng đường bứt phá
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là một mô hình đóng kín, hoàn tất, mà là một hệ thống mở, không ngừng được tổng kết và hoàn thiện qua từng kỳ đại hội. Từ việc thừa nhận kinh tế nhiều thành phần năm 1986, xác lập khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa năm 2001, hiến định mô hình này năm 2013, đến việc định vị lại từng thành phần kinh tế trong các nghị quyết 57, 68 và 10 của giai đoạn 2024-2026 đã giải phóng tối đa lực lượng sản xuất bằng tri thức và công nghệ; tổ chức quan hệ sản xuất sao cho mỗi khu vực kinh tế phát huy hết sở trường của mình và giữ cho toàn bộ cỗ máy ấy vận hành vì mục tiêu con người. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là chìa khóa để vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
20 năm tới là quãng thời gian mà mô hình này phải chứng minh bằng kết quả, chứ không chỉ bằng lý luận và những điểm nghẽn đã được nhận diện: chi phí tuân thủ còn cao, khả năng hấp thụ vốn còn yếu, hơn 97% doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa[15], cơ cấu dân số vàng sẽ khép lại trong khoảng mười lăm năm[16]. Nhưng nếu các mục tiêu của Đại hội XIV và các nghị quyết của Bộ Chính trị được thực hiện, Việt Nam năm 2045 sẽ có một nền kinh tế mà kinh tế số chiếm nửa GDP, khu vực tư nhân tạo ra hơn 60% của cải, khu vực FDI gắn kết hữu cơ với doanh nghiệp trong nước và năng suất, chứ không phải lao động rẻ, là nguồn gốc của tăng trưởng. Đó chính là nền tảng vật chất cho bức tranh mà Kỳ 1 đã xây dựng.
Nguyễn Thị Hoài Thu
Nguyễn Đình Thiện
KỲ 3: CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI 2045 - ĐÔ THỊ HIỆN ĐẠI, AN SINH BAO TRÙM
[1] World Bank (2024), World Development Report 2024: The Middle-Income Trap, Washington D.C., tr.1-5.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.112.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, ngày 23/01/2026.
[4] Tô Lâm (2026), Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Hà Nội, ngày 05/10/2026.
[5] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW, tlđd, mục II (Mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045).
[6] Thủ tướng Chính phủ (2024), Quyết định số 1017/QĐ-TTg ngày 21/9/2024 phê duyệt Chương trình “Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050”.
[7] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW, tlđd, mục II (Mục tiêu).
[8] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, mục II (Mục tiêu).
[9] Tô Lâm (2026), Phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, tlđd.
[10] Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.25-26.
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội XIII, tập I, tlđd, tr.128-130.
[12] Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050.
[13] Thủ tướng Chính phủ (2025), Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII điều chỉnh).
[14] Tô Lâm (2026), Phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, tlđd.
[15] Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2025), Niên giám thống kê 2024, Nxb Thống kê, Hà Nội (doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động).
[16] Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên hợp quốc (2021), Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2019-2069, Hà Nội.