Kể từ mùa Xuân năm 1930 đến mùa Xuân năm 2026 - Chín mươi sáu mùa Xuân từ khi Nhân dân ta có Đảng, khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc, phồn vinh luôn là mạch chảy xuyên suốt, làm nên những mùa Xuân của Đảng, Nhân dân, đất nước. Mỗi kỳ đại hội đều đánh dấu những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam.
Hội nghị thành lập Đảng năm 1930: Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản mang tầm vóc lịch sử của Đại hội thành lập Đảng diễn ra vào đầu năm 1930, do đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc). Sau này, Đảng ta lấy ngày 03-02-1930 là ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một bước ngoặt hết sức quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam và là một khởi đầu cho tương lai tươi sáng của dân tộc.
Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng: Được tổ chức từ ngày 27 đến ngày 31-3-1935 tại Ma Cao, Trung Quốc. Dự đại hội có 13 đại biểu. Đại hội thông qua Nghị quyết chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết về công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh lính, về công tác mặt trận phản đế, đội tự vệ, cứu tế đỏ… Đại hội lần thứ I của Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng, đánh dấu sự khôi phục được hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước; thống nhất phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng: Diễn ra từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951, tại Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Đây là Đại hội Đảng được tổ chức lần đầu tiên ở trong nước với điều kiện mới. Về dự đại hội có 158 đại biểu chính thức, thay mặt cho 766.349 đảng viên trong cả nước. Do yêu cầu của cuộc kháng chiến, giai cấp công nhân và Nhân dân mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia cần có một Đảng lãnh đạo. Ở Việt Nam, Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên mới là Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng là sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước trưởng thành mới về tư tưởng, đường lối chính trị của Đảng. Việc đề ra cương lĩnh và đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn có ý nghĩa quyết định đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành những thắng lợi ngày càng to lớn hơn.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng: Diễn ra từ ngày 05 đến ngày 12-9-1960 tại Hà Nội. Đây là Đại hội được tổ chức lần đầu tiên ở Thủ đô Hà Nội. Về dự đại hội có 525 đại biểu chính thức thay mặt cho 500.000 đảng viên trong cả nước. Đại hội diễn ra trong bối cảnh công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế ở miền Bắc đang giành được những kết quả to lớn và cách mạng ở miền Nam đã tiến lên một bước phát triển mới. Đại hội đã thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới; Thông qua Điều lệ (sửa đổi) của Đảng và Lời kêu gọi của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, các nội dung được thông qua có tầm quan trọng quyết định phương hướng nhiệm vụ của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.
Đại hội đại biểu lần thứ IV của Đảng: Diễn ra từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976 tại Thủ đô Hà Nội. Về dự đại hội có 1008 đại biểu thay mặt hơn 1.550.000 đảng viên trong cả nước. Đại hội quyết định đường lối cách mạng cho giai đoạn mới; quyết định phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980), sửa đổi Điều lệ Đảng và bầu Ban Chấp hành Trung ương mới. Đại hội quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Điều lệ mới của Đảng gồm có 11 chương và 59 điều. Điều lệ đã rút gọn 10 nhiệm vụ của đảng viên thành 5 nhiệm vụ, đặt lại chức vụ Tổng Bí thư thay chức Bí thư thứ nhất, quy định nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương là 5 năm.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng: Đại hội diễn ra từ ngày 27 đến 31-3-1982. Tham dự đại hội có 1.033 đại biểu thay mặt cho hơn 1,7 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội đã thông qua Điều lệ (sửa đổi) của Đảng. Đây là thời kỳ Đảng và Nhân dân ta phải trải qua nhiều thách thức to lớn. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý kinh tế, quản lý xã hội của Đảng và Nhà nước có nhiều hạn chế, khuyết điểm. Xuất hiện tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội. Thực trạng đất nước đòi hỏi Đảng phải kiểm điểm lại đường lối, chủ trương, chính sách, đánh giá khách quan thành tựu và hạn chế, khuyết điểm, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, các biện pháp giải quyết đúng những vấn đề quan trọng cấp bách trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam tiến lên.
Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng: Diễn ra từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho hơn 1,9 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế - xã hội nước ta đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ, phải nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng thực trạng của đất nước. Từ đó xác định đúng mục tiêu và nhiệm vụ của cách mạng trong chặng đường trước mắt, đề ra chủ trương, chính sách đúng để xoay chuyển tình thế, đưa đất nước vượt qua khó khăn, tiến lên phía trước. Đại hội đã quyết định các vấn đề trọng đại của Đảng và Nhà nước ta, trong đó chủ yếu là tiếp tục đẩy mạnh đổi mới cơ chế quản lý kinh tế sang kinh doanh XHCN; đổi mới quản lý Nhà nước, đổi mới công tác tổ chức và cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác quần chúng của Đảng. Đại hội VI là Đại hội kế thừa và quyết tâm đổi mới, đoàn kết tiến lên của Đảng ta.
Đại hội đại biểu lần thứ VII của Đảng: Đại hội diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự đại hội có 1.176 đại biểu thay mặt cho hơn 2,1 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội được tiến hành trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang có những diễn biến phức tạp. Đó là sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, sự chống phá nhiều phía vào chủ nghĩa xã hội, vào chủ nghĩa Mác – Lênin và Đảng Cộng sản, những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch quốc tế hòng xoá bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực và sự hoang mang dao động của một bộ phận những người cộng sản trên thế giới đã tác động đến tư tưởng và tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân Việt Nam. Đại hội thông qua báo cáo Xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng, khẳng định vai trò trách nhiệm của Đảng, đánh giá thực trạng tình hình Đảng và xác định phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng trong thời kỳ mới
Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng: Đại hội diễn ra từ ngày 28-6 đến ngày 01-7-1996 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự đại hội có 1.198 đại biểu thay mặt cho gần 2 triệu 130 nghìn đảng viên trong cả nước. Đại hội VIII của Đảng “có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu cột mốc phát triển mới trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta”. Đại hội VIII của Đảng là Đại hội tiếp tục đổi mới vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân. “Kết quả của Đại hội có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc và tương lai đất nước vào lúc chúng ta sắp bước vào thế kỷ XXI”.
Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng: Diễn ra từ ngày 19 đến ngày 22-4-2001 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.168 đại biểu chính thức thay mặt cho hơn 2,4 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội lần thứ IX của Đảng là Đại hội “Trí tuệ, Dân chủ, Đoàn kết, Đổi mới”, là Đại hội có ý nghĩa lịch sử trọng đại, thể hiện ý chí kiên cường và niềm hy vọng lớn lao của cả dân tộc Việt Nam vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đại hội đánh dấu chặng đường 15 năm đổi mới và 10 năm thực hiện Chiến lược kinh tế - xã hội 1991-2000, là Đại hội đầu tiên của Đảng trong thế kỷ XXI.
Đại hội đại biểu lần thứ X của Đảng: Diễn ra từ ngày 18 đến ngày 25-4-2006, tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.176 đại biểu chính thức thay mặt cho 3,1 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội X của Đảng diễn ra trong thời điểm lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Sự nghiệp đổi mới trên đất nước ta đã trải qua 20 năm. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vừa kết thúc 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, cũng là 5 năm đầu tiên của thế kỷ XXI. Đại hội tổng kết 20 năm đổi mới, thẳng thắn nhìn nhận hạn chế và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Việc xác lập mục tiêu đẩy mạnh đổi mới toàn diện đã trở thành trọng tâm chiến lược, nhằm huy động mọi nguồn lực đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng: Diễn ra từ ngày 12 đến ngày 19-01-2011, tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1377 đại biểu chính thức, thay mặt cho hơn 3,6 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội diễn ra trong bối cảnh đất nước ta đã trải qua 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001, đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đại hội đã thông qua các văn kiện rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, lâu dài đối với sự phát triển của đất nước: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, phương hướng, nhiệm vụ năm 2011 - 2015 và Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi).
Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng: Diễn ra từ ngày 20 đến ngày 28-1-2016, tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.510 đại biểu chính thức thay mặt cho hơn 4,5 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là nhìn lại, đánh giá thành tựu 30 năm đổi mới, 5 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011); quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2016-2020 và những năm tiếp theo; tiếp tục thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020.
Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng: Diễn ra từ ngày 25-01 đến ngày 01-02- 2021 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.587 đại biểu đại diện cho gần 5,2 triệu đảng viên trong cả nước. Với tinh thần “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển”, Đại hội có ý nghĩa định hướng và tầm nhìn chiến lược cho tương lai, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và phát triển đất nước nhanh và bền vững hơn.
Đại hội đại biểu lần thứ XIV của Đảng: Diễn ra từ ngày 19 đến ngày 25-01-2026 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia, Thủ đô Hà Nội. Tham dự đại hội có 1.586 đại biểu thay mặt cho hơn 5,6 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội diễn ra sau tám thập niên giành độc lập và bốn thập niên kiên trì đổi mới, đất nước đứng trước ngưỡng cửa của một chu kỳ phát triển mới, với vị thế, tiềm lực và khát vọng vươn lên mạnh mẽ. Với phương châm “Đoàn kết – Dân chủ - Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”, Đại hội được Nhân dân cả nước gửi trọn niềm tin và kỳ vọng lớn lao: Niềm tin vào con đường phát triển đã lựa chọn và hy vọng vào một giai đoạn bứt phá mới của đất nước, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Nhìn lại các kỳ Đại hội của Đảng, đặc biệt là các kỳ đại hội diễn ra vào mùa Xuân (từ tháng 01 đến tháng 3), có thể thấy đó là những sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc. Hội nghị thành lập Đảng (1930) đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức trong mấy thập niên đầu của thế kỷ 20. Đại hội đại biểu lần thứ II (1951) của Đảng, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước sang giai đoạn mới, sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo thêm sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) của Đảng diễn ra khi nước ta trải qua 25 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng và đạt được nhiều thành tựu quan trọng; khẳng định quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân vượt qua thách thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững. Và hiện nay, khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (2026) của Đảng đang diễn ra tại Thủ đô Hà Nội, đó là Đại hội của hy vọng về một giai đoạn phát triển mới nhanh hơn, bền vững hơn và nhân văn hơn. Với bản lĩnh đã được tôi luyện qua lịch sử, với trí tuệ và khát vọng của cả dân tộc, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng rằng từ Đại hội XIV, đất nước sẽ vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tự tin kiến tạo tương lai và hiện thực hóa mục tiêu trở thành một quốc gia hùng cường, phồn vinh, người dân ngày càng ấm no và hạnh phúc.
TS, Thượng tá Tống Thị Nga – T03