Lý luận chính trị
Thứ Tư, 6/5/2026 15:13'(GMT+7)

XÁC ĐỊNH NỘI HÀM KỶ LUẬT TRONG PHONG TRÀO THI ĐUA BA NHẤT CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN

Bài viết luận giải nội hàm kỷ luật trong phong trào thi đua Ba nhất(Kỷ luật nhất - Trung thành nhất - Gầm dân nhất) do Bộ Công an phát động; phân tích giá trị lý luận và thực tiễn của việc xây dựng kỷ luật làm nên sức mạnh của lực lượng Công an nhân dân. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất giải pháp góp phần xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

1. Kỷ luật là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội, song nội hàm của nó không dừng lại ở sự tuân thủ đơn thuần các quy tắc hay mệnh lệnh mang tính cưỡng chế. Về bản chất, kỷ luật được hiểu là sự tuân thủ các quy tắc, nguyên tắc và chuẩn mực đã được xác lập, bao gồm cả việc tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân và chấp hành các quy định chung của tổ chức, nhằm hướng tới mục tiêu chung, duy trì trật tự, nề nếp và bảo đảm sự vận hành hiệu quả của tổ chức. Kỷ luật vì thế được thể hiện không chỉ qua hành vi chấp hành, mà còn qua tính tự giác, sự kiên trì và tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân; không chỉ là sự bị ép buộc từ bên ngoài, mà còn là quá trình làm chủ bản thân, làm chủ hành vi để sống và hành động một cách chủ động, có định hướng.

Tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt giải thích “kỷ luật” là tập hợp những quy tắc, quy định bắt buộc phải tuân theo trong một tổ chức nhất định nhằm bảo đảm trật tự, nề nếp và hiệu quả hoạt động. Cách định nghĩa này cho thấy, kỷ luật trước hết mang bản chất là một hệ thống các chuẩn mực chung, có tính ràng buộc, được thiết lập để điều chỉnh hành vi của các cá nhân trong một chỉnh thể tổ chức. Từ đó có thể nhận thấy hai đặc trưng cơ bản của kỷ luật. Một là, kỷ luật luôn gắn với tổ chức; ở đâu có tổ chức, ở đó có kỷ luật. Kỷ luật không tồn tại trong trạng thái đơn lẻ, mà chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, giữa quyền hạn và trách nhiệm. Hai là, kỷ luật mang tính bắt buộc, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay cảm tính của từng cá nhân, mà đòi hỏi sự tuân thủ thống nhất vì lợi ích chung của tổ chức.

Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp cận kỷ luật ở phương diện bắt buộc phải tuân theo, khái niệm này rất dễ bị hiểu giản đơn như một cơ chế áp đặt từ bên ngoài. Trên thực tế, ngay trong cách định nghĩa của từ điển đã hàm chứa yếu tố tự giác và tự kiểm soát, bởi mục đích cuối cùng của kỷ luật không chỉ là duy trì trật tự hình thức, mà là bảo đảm nề nếp và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức. Điều đó đòi hỏi mỗi cá nhân không chỉ chấp hành một cách thụ động, mà còn phải ý thức được giá trị, ý nghĩa và mục tiêu của việc chấp hành. Ở mức độ phát triển cao hơn, kỷ luật trở thành năng lực tự quản, tự kiểm soát và làm chủ hành vi của mỗi cá nhân trong khuôn khổ tổ chức; khi đó, kỷ luật không còn là sự ép buộc đơn thuần, mà là điều kiện để cá nhân phát huy đúng vai trò, trách nhiệm và năng lực của mình trong tổ chức. Từ cách tiếp cận này, có thể thấy kỷ luật vừa là sự tuân thủ các quy tắc đã được xác lập, vừa là quá trình điều chỉnh hành vi mang tính tự giác của cá nhân nhằm bảo đảm sự vận hành thống nhất, ổn định và hiệu quả của tổ chức. Đây chính là cơ sở lý luận quan trọng để tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và lực lượng Công an nhân dân nói riêng.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, kỷ luật trong Công an nhân dân là một nội dung cốt lõi, gắn liền với đạo đức cách mạng và sự sống còn của lực lượng. Người coi việc rèn luyện kỷ luật là một cuộc đấu tranh bền bỉ chống lại chủ nghĩa cá nhân - nguồn gốc của mọi sự buông lỏng kỷ cương. Hồ Chí Minh chỉ rõ, chủ nghĩa cá nhân như vi trùng đẻ ra nhiều bệnh khác[1], từ lối sống tùy tiện, làm việc theo cảm tính, đến tình trạng thiếu trách nhiệm, thiếu kỷ luật, làm suy yếu sức chiến đấu và sự đoàn kết trong tổ chức. Đây là kẻ địch ở trong con người mình[2], không thể tiêu diệt bằng mệnh lệnh hay cưỡng chế đơn thuần, mà phải được đẩy lùi bằng sức mạnh của sự tự giác và đạo đức cách mạng. Chính vì vậy, tuân thủ kỷ luật trở thành nhân tố đặc biệt quan trọng, góp phần tạo nên sức mạnh của tổ chức cách mạng. Điều này càng có ý nghĩa sâu sắc khi đặt trong lực lượng vũ trang nhân dân, mà trực tiếp là lực lượng Công an nhân dân - lực lượng vũ trang nòng cốt, chuyên trách trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Trong đặc thù đó, kỷ luật không chỉ là yêu cầu về tổ chức và quản lý, mà là yếu tố then chốt làm nên bản lĩnh chính trị, sức chiến đấu và uy tín xã hội của lực lượng Công an nhân dân, bảo đảm cho lực lượng Công an nhân dân luôn hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.

2. Trong tiến trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu về việc bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với lực lượng Công an nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, việc rèn luyện bản lĩnh chính trị và tác phong công tác chuyên nghiệp là một tất yếu khách quan. Trong bối cảnh đó, Bộ Công an phát động phong trào thi đua Ba nhất: Kỷ luật nhất - Trung thành nhất - Gần dân nhất trong toàn lực lượng. Đây là dấu mốc quan trọng, thể hiện tư duy chiến lược trong việc cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng về xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Phong trào thi đua Ba nhất không dừng lại ở việc nêu khẩu hiệu hành động, mà được thiết kế như một hệ thống giá trị có cấu trúc khoa học, với 21 nội hàm cụ thể, tập trung vào ba trụ cột then chốt. Trong đó, trụ cột Kỷ luật nhất giữ vai trò nền tảng, chi phối trực tiếp phương thức tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy và hành động của lực lượng Công an nhân dân. Đây không chỉ là trụ cột về kỷ cương tổ chức, mà còn là trụ cột về bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng và tác phong công tác, được chỉ rõ gồm:

Thứ nhất, tuyệt đối chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng; tuân thủ nghiêm ngặt và chính xác Hiến pháp, pháp luật Nhà nước, điều lệnh, quy định, quy trình công tác của Công an nhân dân. Nội hàm này khẳng định kỷ luật trong Công an nhân dân trước hết là kỷ luật chính trị, gắn liền và thống nhất với kỷ luật pháp quyền. Việc tuyệt đối chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các nghị quyết của Đảng không chỉ là yêu cầu về tổ chức, mà là biểu hiện tập trung của sự trung thành chính trị, bảo đảm cho lực lượng Công an nhân dân luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Đồng thời, tuân thủ nghiêm Hiến pháp, pháp luật, điều lệnh, quy trình công tác là yêu cầu bắt buộc đối với lực lượng trực tiếp thực thi quyền lực nhà nước. Sự thống nhất giữa hai phương diện này thể hiện sâu sắc nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện lực lượng Công an nhân dân; đồng thời, khẳng định tinh thần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thượng tôn pháp luật.

Thứ hai, tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên; bảo đảm báo cáo trung thực, chính xác, nhanh chóng và thiết thực. Trong điều kiện tình hình an ninh, trật tự diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường, nội hàm này đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải hình thành ý thức phục tùng từ bên trong, không chỉ phục tùng bằng hành vi mà bằng nhận thức chính trị sâu sắc. Phục tùng mệnh lệnh là điều kiện bảo đảm sự thống nhất hành động của toàn lực lượng; báo cáo trung thực, chính xác, nhanh chóng và thiết thực là yêu cầu bắt buộc để bảo đảm hiệu lực chỉ huy. Chính vì vậy, kỷ luật ở nội hàm này không cho phép sự do dự, né tránh hay báo cáo hình thức, báo cáo phải sát với thực tiễn công tác công an góp phần bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Thứ ba, tự giác đặt mình trong sự quản lý của chi bộ, đơn vị; tuân thủ kỷ luật của Đảng, của chính quyền, của cơ quan, đoàn thể và của nhân dân. Ở nội hàm này, kỷ luật được tiếp cận từ phương diện tự giác và chủ động. Người cán bộ, chiến sĩ phải luôn có tính chủ động và tính tự giác trong chấp hành kỷ luật; chấp hành nghiêm mọi quy định, chủ động thực hiện nhiệm vụ, không đợi nhắc nhở, không làm đối phó hay hình thức. Khi kỷ luật được thực hiện trên nền tảng tự giác và chủ động, nó không còn là sự ràng buộc mang tính cưỡng chế từ bên ngoài, mà trở thành chuẩn mực nội tâm hóa, chi phối hành vi, tác phong và thái độ công tác của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong mọi tình huống. Trên bình diện rộng hơn, kỷ luật không chỉ bảo đảm hiệu quả quản lý nội bộ, mà còn trở thành chuẩn mực ứng xử xã hội, được nhân dân trực tiếp cảm nhận thông qua thái độ phục vụ, tinh thần trách nhiệm và chất lượng thực thi công vụ của người cán bộ, chiến sĩ.

Thứ tư, thực hiện nghiêm nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng Trung ương; nói và làm theo nghị quyết của Đảng. Đây là nội hàm cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Trong bất kỳ tổ chức nào, nhất là tổ chức vũ trang, mọi cá nhân đều phải chấp hành chủ trương, nghị quyết và mệnh lệnh với tinh thần thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức. Kỷ luật ở đây không cho phép sự tùy tiện cá nhân hay hành động theo cảm tính; nói và làm theo nghị quyết của Đảng trở thành thước đo thực chất của ý thức kỷ luật trong hành động.

Thứ năm, Đảng giao việc gì khó mấy cũng phải làm được. Đây là nội hàm thể hiện rõ nhất kỷ luật trong hành động thực tiễn. Kỷ luật không chỉ là không vi phạm, mà còn là thái độ trước nhiệm vụ. Người cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân phải có tinh thần không nói không, không nói khó, không nói có nhưng không làm; việc gì có lợi cho Đảng, cho ngành, phục vụ nhân dân thì sẵn sàng nhận và quyết tâm làm đến cùng. Nội hàm này đòi hỏi sự thống nhất tuyệt đối giữa nhận thức và hành động, giữa lời nói và việc làm, hình thành tác phong công tác chuẩn mực, nhất quán từ tư duy đến thực tiễn.

Thứ sáu, nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức; lãnh đạo, chỉ huy thực sự là tấm gương sáng về chấp hành pháp luật, kỷ luật. Nội hàm này nâng yêu cầu kỷ luật lên tầm nêu gương lãnh đạo. Thực tiễn cho thấy, ở đâu lãnh đạo là tấm gương sáng về chấp hành pháp luật và kỷ luật, ở đó đơn vị vững mạnh, cán bộ, chiến sĩ có động lực phấn đấu tự thân. Nói đi đôi với làm không chỉ là yêu cầu đạo đức, mà là phương thức lãnh đạo hiệu quả nhất trong xây dựng kỷ luật tự giác. Khi lãnh đạo thực sự gương mẫu, kỷ cương trong toàn đơn vị sẽ được giữ vững một cách tự nhiên, bền vững và có sức lan tỏa sâu rộng.

Thứ bảy, đam mê, tâm huyết, trách nhiệm; làm việc khoa học, hiệu quả; đủ bản lĩnh vượt qua cám dỗ, khó khăn, sẵn sàng hy sinh vì Đảng, vì dân. Nội hàm cuối cùng khái quát kỷ luật ở cấp độ cao nhất - cấp độ đạo đức, bản lĩnh và sự hy sinh. Người cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân được Đảng lựa chọn từ những người ưu tú nhất trong những người ưu tú. Do đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn ý thức sâu sắc về sứ mệnh của mình, thể hiện sự đam mê, nhiệt huyết và trách nhiệm trong công việc; đủ bản lĩnh vượt qua mọi cám dỗ, sẵn sàng đối mặt với chông gai, thử thách, thậm chí hy sinh lợi ích riêng và cả tính mạng vì Đảng, vì nhân dân.

Tổng thể, bảy nội hàm của trụ cột Kỷ luật nhất không chỉ tạo nên một hệ tiêu chí quản lý, mà hình thành một chuẩn mực văn hóa tạo nên sức mạnh cốt lõi quyết định bản lĩnh, sức chiến đấu và uy tín của lực lượng Công an nhân dân trong giai đoạn hiện nay.

3. Trong bối cảnh an ninh thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; tình hình trong nước đặt ra ngày càng nhiều yêu cầu mới, cao hơn, toàn diện hơn đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phong trào thi đua Ba nhất được triển khai như một bước đi mang tính chiến lược, có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển hóa các yêu cầu lý luận, chủ trương của Đảng thành hành động thực tiễn sinh động, cụ thể và hiệu quả trong toàn lực lượng. Trên cơ sở bảy nội hàm cốt lõi của thành tố Kỷ luật nhất, tác giả đề xuất một số giải pháp mang tính hệ thống nhằm tiếp tục cụ thể và hiện thực hóa các yêu cầu lý luận này trong thực tiễn công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng Công an nhân dân hiện nay như sau:

Một là, chuẩn hóa quy trình quán triệt và thực thi kỷ luật, pháp luật: Cần xây dựng cơ chế tự giác và bắt buộc trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng cùng hệ thống các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Giải pháp này đòi hỏi sự lồng ghép các quy định pháp luật và điều lệnh Công an nhân dân vào mọi quy trình công tác chuyên môn, đảm bảo mỗi bước đi của cán bộ, chiến sĩ đều nằm trong khuôn khổ chính trị, pháp lý nghiêm ngặt.

Hai là, thiết lập cơ chế thông tin báo cáo và phục tùng mệnh lệnh tối ưu: Phải cụ thể hóa nguyên tắc tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành mệnh lệnh cấp trên bằng các bộ chỉ số đánh giá kết quả thi hành. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống báo cáo từ dưới lên trên đạt chuẩn 4 tiêu chí: trung thực, chính xác, nhanh chóng và thiết thực. Đây là giải pháp kỹ thuật và tổ chức quan trọng để đảm bảo tính thông suốt trong hệ thống lãnh đạo, chỉ huy, điều hành công tác của toàn lực lượng.

Ba là, tăng cường vai trò kiểm soát và quản lý của tổ chức cơ sở đảng: Mỗi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên phải thực sự tự giác đặt mình dưới sự quản lý của chi bộ và đơn vị. Trong đó, cần chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, xem đây là môi trường rèn luyện kỷ luật Đảng và chính quyền. Mọi hành động của cá nhân phải được soi chiếu qua phạm vi kỷ luật của tổ chức, đoàn thể và sự giám sát của tổ chức để ngăn ngừa từ sớm, từ xa các biểu hiện lệch lạc.

Bốn là, vận hành nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ trong mọi cấp độ tổ chức: Phải coi việc thực hiện nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng Trung ương là thước đo tính đảng của mỗi đơn vị. Từ đó, loại bỏ tư duy cục bộ, đảm bảo mọi cán bộ, chiến sĩ đều thống nhất hành động theo phương châm nói và làm theo nghị quyết của Đảng, tạo nên sức mạnh tổng hợp từ sự thống nhất ý chí.

Năm là, xây dựng cơ chế giao nhiệm vụ khó để thử thách và rèn luyện bản lĩnh: Dựa trên tinh thần Đảng giao việc gì khó mấy cũng phải làm được, các đơn vị cần chủ động phân công cán bộ vào những vị trí, địa bàn phức tạp hoặc những khâu công tác mới, khó khăn. Việc vượt qua các thử thách này không chỉ là hoàn thành nhiệm vụ mà còn là phương thức thực tiễn nhất để rèn luyện tính kỷ luật và bản lĩnh chính trị trước mọi áp lực.

Sáu là, thực thi quy định về trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu: Giải pháp then chốt để lan tỏa tinh thần kỷ luật là lãnh đạo, chỉ huy phải thực sự là tấm gương sáng. Cần có cơ chế giám sát chặt chẽ để đảm bảo lãnh đạo nói đi đôi với làm, gương mẫu chấp hành pháp luật và kỷ luật ngành. Sự nêu gương của cấp trên chính là mệnh lệnh hiệu quả nhất, tạo động lực cho cấp dưới học tập và làm theo.

Bảy là, chú trọng đào tạo tác phong làm việc khoa học gắn liền với rèn luyện đạo đức: Cần đẩy mạnh việc thực hiện nhiệm vụ với hiệu quả, hiệu suất cao, gắn liền với kỹ năng tiết kiệm thời gian và làm việc khoa học. Song song đó, phải tăng cường giáo dục chính trị để cán bộ đủ năng lực vượt qua mọi cám dỗ, can đảm đối mặt với thử thách và luôn trong tư thế sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì sự nghiệp của Đảng và sự bình yên của nhân dân./.

      Đại tá, TS. NGUYỄN YẾN THANH

Trưởng khoa, Học viện Chính trị Công an nhân dân

Nguồn Tạp chí Công an nhân dân

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hồ Chí Minh (2011), Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (1969), trong Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2. Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tập 4, tập 6, tập 11, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

4. Bộ Công an (2025), Phát động phong trào thi đua Ba nhất trong Công an nhân dân, phát biểu của Đại tướng Lương Tam Quang tại Hội nghị giao ban Bộ tháng 10/2025.

5. Ban Chấp hành Trung ương (2021), Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm, Hà Nội.

6. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2018), Quy định số 08-QĐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, Hà Nội.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 11, tr. 249.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 11, tr. 611.

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất