Thuật ngữ “Châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương” được sử dụng trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm xác định về một khu vực mở, có sự hiện diện của hầu hết các cường quốc hàng đầu thế giới, với các chiến lược màng tầm khu vực và toàn cầu, đang ảnh hưởng sâu sắc đến khu vực Đông Nam Á và Việt Nam. Nhận diện đúng về khu vực sẽ góp phần cho việc hoạch định đường lối và chính sách đối ngoại của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình, thực hiện thành công những nhiệm vụ cách mạng mới ở thế kỷ XXI.
Nguồn: Udayan Das, “What is the Indo-Pacific?”, The Diplomat, 13/7/2019
- Lịch sử khái niệm
Thuật ngữ “Châu Á - Thái Bình Dương” (Asia-Pacific) xuất hiện trong các văn kiện của Mỹ năm 1943, tiêu biểu là Hội nghị Cairo, chủ yếu được định hình dưới góc độ chiến lược quân sự và địa chính trị, xác định khu vực này là chiến trường trọng điểm để Mỹ và các đồng minh (Anh, Trung Hoa Dân quốc) nhằm đánh bại Nhật Bản và tái thiết trật tự sau chiến tranh thế giới thứ hai. Thuật ngữ “Châu Á - Thái Bình Dương” được hiểu là chiến trường chủ chốt chống phát xít Nhật, trọng tâm là khu vực Đông Á (Trung Quốc, Triều Tiên) và các đảo ở Thái Bình Dương. Vì vậy ý nghĩa của thuật ngữ mang tính chiến thuật - chiến lược hơn là một thực thể kinh tế, tập trung vào việc định hình biên giới hậu chiến và thiết lập quyền kiểm soát của Mỹ tại Tây Thái Bình Dương.
Thuật ngữ này được củng cố bởi ý tưởng về cạnh tranh, hợp tác, liên minh trong quan hệ quốc tế và trở thành thuật ngữ được giới nghiên cứu và lãnh đạo ở nhiều quốc gia sử dụng rộng rãi trong thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX. Điển hình là “chính sách mở cửa Trung Quốc” lần 2 của Mỹ (1), sự trỗi dậy của Trung Quốc từ sau cải cách mở cửa, sự nổi lên của các nền kinh tế mới (NIEs) ở Đông Á, sự chuyển biến tích cực của ASEAN trong liên kết khu vực. Thuật ngữ này tiếp tục được sử dụng rộng rãi sau Chiến tranh lạnh cùng với việc Trung Quốc tuyên bố “trỗi dậy hòa bình”.
Về phạm vi địa lý, đây là khu vực nằm ở phía Tây của Thái Bình Dương, gồm các quốc gia, vùng lãnh thổ chạy dài từ Đông Bắc Á đến Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương (theo nghĩa hẹp) và bao gồm các nước phía Đông của Thái Bình Dương, trong đó có Bắc Mỹ, vùng Viễn Đông của Nga và cả một số nước châu Á như Ấn Độ (theo nghĩa rộng).
Về kinh tế và an ninh, đây là không gian địa - chính trị, địa - kinh tế và an ninh chiến lược, nơi hội tụ của hợp tác và cạnh tranh giữa các nước lớn và các trung tâm quyền lực trên thế giới. Điển hình là sự hiện diện các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và các nền kinh tế mới (NIEs) như Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia, Singapore…. Bên cạnh đó, còn có sự hiện diện của hệ thống đồng minh do Mỹ dẫn dắt ở Tây Thái Bình Dương. Ngoài ra, các cơ chế đa phương ở khu vực cũng xuất hiện và gắn với thuật ngữ này ngày càng nhiều. Điển hình là việc ra đời của “Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương” (PECC-1980) và “Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương” (APEC- 1989) là một minh chứng cho tính hiện thực của thuật ngữ này (2).
Thuật ngữ “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” (Indo- Pacific). Về phạm vi địa lý, là một không gian kết nối giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, bao gồm toàn bộ vùng biển phía Đông của châu đến bờ biển phía Tây nước Mỹ (kết nối hai đại dương lớn là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương). Khu vực này không phải do các yếu tố địa lý tự nhiên thúc đẩy, bởi không có ranh giới chính xác cho Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Về kinh tế và an ninh, là sự kết nối và phụ thuộc lẫn nhau của các quốc gia ở hai đại dương lớn trong tiến trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ - xuất phát từ những phát triển về kinh tế và an ninh ở khu vực, nhu cầu phá vỡ ranh giới cũ để thiết lập những không gian mới phù hợp với các đại chiến lược lớn.
Thuật ngữ này, lần đầu tiên xuất hiện trong giới chiến lược Ấn Độ, từ cảm hứng sự trỗi dậy của Ấn Độ, khi mà nước này đang đạt được tăng trưởng kinh tế ấn tượng vào thập niên 90 của thế kỷ XX, cùng những chương trình vũ khí hạt nhân, đặc biệt là sự hiện diện quân sự của Ấn Độ tại Ấn Độ Dương. Ấn Độ khẳng định cách tiếp cận này bằng việc ra đời “Chính sách hướng Đông” (1991) của chính quyền Narasimha Rao. Năm 2007, thuật ngữ này được sử dụng chính thức trong một bài báo chính trị quốc tế của nhà nghiên cứu Ấn Độ - Gurpreet Khurana, “được định nghĩa là một không gian hàng hải nối Ấn Độ Dương với Tây Thái Bình Dương, giáp với tất cả các quốc gia ở châu Á (bao gồm cả Tây Á, Trung Đông) và Đông Phi”. Với cách tiếp cận này, chính quyền Narendra Modi đã nâng cấp “Chính sách hướng Đông” thành “Chính sách và hành động hướng Đông” (2014) nhằm làm sâu sắc hơn quan hệ của Ấn Độ với các nước ở châu Á – Thái Bình Dương, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ấn Độ, gia tăng vai trò của Ấn Độ, đối trọng với sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực và toàn cầu. Đây là nền tảng quan trọng để Ấn Độ đưa ra sáng kiến “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (FOIP-2018).
Thuật ngữ này cũng được giới nghiên cứu và hoạch định chính sách một số nước trong khu vực quan tâm như Nhật Bản, Australia. Năm 2007, Thủ tướng Nhật Bản – S. Abe đã sử dụng thuật ngữ này trong bài phát biểu trước Quốc Hội Ấn Độ về "Con đường hướng tới một Châu Á rộng lớn hơn" (Confluence of Two Seas), ông nhấn mạnh sự kết nối giữa hai đại dương thành một khu vực "tự do và thịnh vượng"(3). Thuật ngữ này đặt nền móng cho chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở (FOIP) của Nhật Bản được công bố chính thức tại Hội nghị quốc tế Tokyo về Phát triển châu Phi (TICAD - 2016). Cùng với Nhật Bản, Australia là quốc gia ở Nam Thái Bình Dương cũng bắt đầu quan tâm tới sự kết nối hai đại dương Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương trong chính sách đối ngoại của mình. Thuật ngữ này được nhắc đến trong “Sách trắng quốc phòng Australia- 2009”, coi sự kết nối trong không gian hai đại dương này là “trung tâm” trong chiến lược biển và đại dương của Australia đến 2030. Đây là cơ sở nền tảng để quốc gia này công bố chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” (IPS-2017) và trở thành chủ đề trung tâm trong giới lãnh đạo và học thuật của Australia hiện nay (4).
Thuật ngữ này được nhắc nhiều trong các tài liệu ngoại giao và học thuật trên thế giới, khi Mỹ công bố chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (Free and Open Indo-Pacific - FOIP) tại Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC- Đà Nẵng, 2017). Mỹ là nước tiên phong trong thực hiện và triển khai chiến lược FOIP, nhằm tìm kiếm sự tái cân bằng của Mỹ ở châu Á, như một đối trọng với sự trỗi dậy của Trung Quốc, phát triển các liên minh và quan hệ đối tác để củng cố lợi ích của Mỹ trong một khu vực rộng lớn trải dài từ bờ biển phía Tây của Ấn Độ đến bờ biển phía Tây của Mỹ (bờ Đông của Thái Bình Dương). Một số quốc gia (Anh, Pháp, Đức, Hàn Quốc…) và tổ chức khu vực (Liên minh châu Âu - EU) cũng đang sử dụng thuật ngữ Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương trong các văn kiện, chiến lược quan trọng của mình.
Thuật ngữ “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” được sử dụng với mục đích tạo ra một khuôn khổ để quản lý các diễn biến chiến lược, kinh tế trên một khu vực biển rộng lớn nối liền hai đại dương; nhấn mạnh sự kết nối, hợp tác và cạnh tranh giữa các cường quốc; đồng thời đối trọng với sự trỗi dậy của Trung Quốc và cạnh tranh nước lớn, thay vì chỉ tập trung vào các tuyến hàng hải truyền thống. Sự ra đời của các cơ chế an ninh đa phương như “Nhóm Bộ tứ” (QUAD), “Liên minh an ninh hàng hải” (AUKUS)… là minh chứng cho tính hiện thực của thuật ngữ này.

Ảnh: Ngoại trưởng của 4 quốc gia thuộc nhóm “Bộ Tứ” – QUAD bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ
Cách tiếp cận của ASEAN về khu vực này cũng nằm trong bối cảnh chung, song khác với các nước lớn: một mặt, thể hiện quan điểm của ASEAN về FOIP, một mặt thể hiện tính chính trị của tổ chức này trong việc nỗ lực và quyết tâm trở thành một thể chế chính trị đa phương đóng vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực hợp tác và bao trùm. Năm 2013, Bộ Ngoại giao Indonesia đã đưa ra ý tưởng về “Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”(5). Tuy nhiên ý tưởng này chưa được sự quan tâm của ASEAN và các đối tác bên ngoài. Đến Hội nghị cấp cao ASEAN -34 ngày 26/6/2019 tại Thái Lan, các thành viên ASEAN chính thức đưa ra lập trường, quan điểm của mình thông qua Văn kiện “Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” - ASEAN Outlook on the Indo-Pacific - AOIP). AOIP là văn kiện về quan điểm ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và được đưa vào “Từ điển thuật ngữ chính thức của ASEAN”..
2. Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng thuật ngữ “châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương” để nhận định về khu vực hiện nay
Tại Việt Nam, trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII trở về trước, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã sử dụng thuật ngữ “Châu Á – Thái Bình Dương” để nhận định về một khu vực mở, có sự can dự mạnh mẽ của hầu hết các cường quốc hàng đầu thế giới, tác động đến các quốc gia và quan hệ quốc tế, ảnh hưởng sâu sắc đến khu vực Đông Nam Á và Việt Nam đầu thế kỷ XXI.
Năm 2025, thuật ngữ “Châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương” được Đảng và Nhà nước Việt Nam đề cập trong “Dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV” (2025). Thuật ngữ này được hình thành không phải bắt nguồn từ yếu tố địa lý tự nhiên hay văn hóa – xã hội, mà chủ yếu từ nhận thức về hành động chiến lược của các nước lớn trong một khu vực địa lý rộng lớn, nơi hội tụ chiến lược kinh tế và an ninh của các nước lớn, các trung tâm quyền lực trên thế giới trong thế kỷ XXI. Sự hiện diện này đang ảnh hưởng trực tiếp đến các quốc gia khu vực, đặc biệt là Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Tiếp thu từ hai thuật ngữ “Châu Á - Thái Bình Dương” và “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”, Đảng sử dụng thuật ngữ “Châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương” khi nhận định về một khu vực rộng lớn đang có những chuyển biến mạnh mẽ: “Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, song cũng là khu vực trọng điểm cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn”(6). Thuật ngữ này được sử dụng trong bối cảnh các chiến lược của Mỹ và Trung Quốc đang triển khai ở khu vực này đều mang tầm vóc toàn cầu và quyết định vị thế sức mạnh của hai cường quốc hàng đầu trong trật tự thế giới mới. Bên cạnh đó, các nước lớn khác (Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, Anh, Pháp, Đức…) và Liên minh châu Âu (EU) cũng đang triển khai chiến lược và cạnh tranh mạnh mẽ tại đây.
Dự báo về tình hình thế giới và khu vực đến năm 2030 và tầm nhìn 2045: Đảng nhận định: “châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương là khu vực trung tâm hội tụ lợi ích chiến lược, cạnh tranh nước lớn, có vị trí, tầm quan trọng đối với phát triển và an ninh toàn cầu. Khu vực này tiếp tục phát triển năng động, có vị trí địa kinh tế - chính trị ngày càng quan trọng trên thế giới, song cũng là địa bàn trọng điểm của cạnh tranh chiến lược nước lớn và chứa đựng những yếu tố bất ổn định”(7).
Trong khu vực rộng lớn này, Đông Nam Á được coi là giao điểm của các đại chiến lược, trở thành địa bàn tranh chấp, lôi kéo quyết liệt của các bên. Sự cạnh tranh chiến lược, tập hợp lực lượng tại Đông Nam Á làm ảnh hưởng đến việc hình thành cấu trúc khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương; tác động trực tiếp đến môi trường hòa bình, an ninh và phát triển của khu vực nói chung và mỗi quốc gia nói riêng.
Hội nghị cấp cao Đông Á trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 47 tại Malaysia tháng 10/2025. (Nguồn: TTXVN)
Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á, thành viên của ASEAN, nằm ở bờ Tây của Thái Bình Dương, là tâm điểm của cạnh tranh chiến lược nước lớn. Khu vực được đánh giá là nhạy cảm bởi sự “hội tụ chiến lược quan trọng nhất trong hợp tác và cạnh tranh kinh tế và an ninh, nơi phát triển năng động nhất và cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất”(8). Việt Nam có thể nắm bắt nhiều cơ hội để phát triển đất nước, song cũng đối diện những thách thức lớn như “Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, trong đó có Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột” (9); Việt Nam định vị mình là thành viên tỏng tổ chức khu vực, tiếp tục thực hiện chủ trương chủ động, tích cực có trách nhiệm trong ASEAN, với nhận thức: “ASEAN tiếp tục tăng cường hợp tác, liên kết, thực hiện Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025, đồng thời nỗ lực khẳng định vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực, song đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới cả bên trong và bên ngoài” (10). Do vậy, sử dụng thuật ngữ “Châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương” cho một không gian địa chiến lược rộng lớn và nhạy cảm, giúp cho Việt Nam chủ động hoạch định đường lối đối ngoại trong kỷ nguyên mới, phù hợp với bối cảnh mới.
Bên thềm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, một kỷ nguyên mới đang đặt ra những nhiệm vụ mới đối với cách mạng Việt Nam. Về đối ngoại, Việt Nam “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Chủ động, tích cực đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế”(11). Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách Quốc phòng “bốn không”, đảm bảo giữ vững môi trường hòa bình và cục diện đối ngoại thuận lợi để hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam xây dựng củng cố lòng tin chiến lược với các quốc gia, gia tăng đan xen lợi ích, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột; chú trọng các cơ chế đa phương như ASEAN, Tiểu vùng sông Mê Công, Liên hợp quốc, APEC...
Như vậy, thuật ngữ “châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương” là sự tiếp thu và phát triển trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về một thực thể khu vực được hình thành chủ yếu từ sự triển khai chiến lược của các nước lớn (điển hình là Mỹ, Trung Quốc) trong một không gian địa lý rộng lớn, tác động trực tiếp đến Đông Nam Á, tổ chức ASEAN và các thành viên, trong đó có Việt Nam. Đảng và Nhà nước Việt Nam sử dụng thuật ngữ này để nhận diện về những chuyển biến mạnh mẽ của khu vực rộng lớn, chủ động hoạch định đường lối đối ngoại trong kỷ nguyên mới, đưa ra các giải pháp, chiến lược phù hợp với bối cảnh mới./.
TS. Trịnh Thị Hoa
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
CN. Trịnh Diễm Quỳnh
ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGTPHCM
Chú thích:
(1), (2), (8) Trần Khánh, Nguyễn Xuân Cường, Sự hình thành khái niệm châu Á - Thái Bình Dương và một số vấn đề nghiên cứu khu vực đặt ra, Tạp chí Nghiên cứu châu Á - Thái Bình Dương, số 1/2025, tr.18, 13, 18.
(3) Xem: Nguồn gốc và ý nghĩa khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương https://nghiencuuquocte.org/2018/05/28/nguon-goc-va-y-nghia-khai-niem-an-do-duong-thai-binh-duong/
(4) Xem: https://www.dfat.gov.au/sites/default/files/2017-foreign-policy-white-paper.pdf.
(5) Xem: “An Indonesian Perspective on the Indo-Pacific. Keynote Address by His Excellency Dr. R. M. Marty M. Natalegawa, Minister for Foreign Affairs, Republic of Indonesia” (Tạm dịch: Quan điểm của Indonesia về khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Bài phát biểu quan trọng của Tiến sĩ R. M. Natalegawa, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Indonesia), Center for Strategic and International Studies (CSIS), ngày 16-5-2013, http://csis.org/files/ attachments/130516_MartyNatalegawa_Speech.pdf
(6), (9), (10), (11), Toàn văn: Dự thảo báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr.18, 18, 18, 36, (file:10.tbvk14_BCCT_14.10(xinykiennhadan).doc
(7) Toàn văn: Dự thảo báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, tr.103. (file:18.tbvk14_BCCT_14.10(xinykiennhadan).doc
Nguồn: https://dangcongsan.org.vn/xay-dung-dang/cong-bo-toan-van-du-thao-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang.html