Lời nói đầu
Xây dựng “thế trận lòng dân” được xác định là một “mũi nhọn tiến công” trong chiến lược bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Nếu hướng tiến công thứ nhất thuộc về thế trận thông tin, truyền thông, hướng tiến công thứ hai thuộc về thế trận pháp lý thì hướng tiến công thứ ba, thuộc về lòng dân, cũng là hướng tiến công chủ đạo, quyết định sự thành bại của chiến lược. Vậy, tại sao mũi nhọn tiến công từ “thế trận lòng dân” lại có tầm quan trọng như vậy? Hướng xây dựng thế trận này ra sao? Trong kỳ 4, chúng tôi tập trung luận bàn về giải pháp xây dựng “thế trận lòng dân” nhằm góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ta.
“Thế trận lòng dân” là một thuật ngữ hiện đại, chính thức được Đảng Cộng sản Việt Nam đưa vào văn kiện lần đầu tiên tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (năm 2006). Trong Văn kiện, Đảng xác định: “Xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân làm nòng cốt”[1]. Kể từ đó, thuật ngữ này liên tục được kế thừa, hoàn thiện sâu sắc qua các kỳ Đại hội XI, XII, XIII, XIV. Xét về bản chất, thuật ngữ “thế trận lòng dân” được khởi nguồn từ tư tưởng “Dĩ dân vi bản”, một “sách lược ngàn năm” của ông cha ta. Tư tưởng này đã thiết lập nền tảng vững chắc, dựng xây nên một nền văn hóa giữ nước đặc sắc, đầy kiêu hãnh và tự hào của dân tộc Việt Nam. Những dấu son lịch sử kéo dài từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, tiếp nối với chiến thắng quân Nam Hán (năm 938) vang dội trên sông Bạch Đằng - chấm dứt nghìn năm Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự chủ của dân tộc. Lòng dân tiếp tục dựng nên những pháo đài kiên cố, những chiến công hiển hách khiến quân Tống đại bại trên dòng sông Như Nguyệt vào thời nhà Lý; quân Nguyên Mông ba lần thất bại nhục nhã trước khí thế Sát Thát rền vang quân dân nhà Trần; giặc Minh cuống cuồng tháo chạy trước sức mạnh như “chẻ tre” của nghĩa quân Lam Sơn đánh dấu trang sử oanh liệt của vương triều nhà Lê; giặc Thanh kinh hồn, bạt vía trước sự phản công thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn khiến tướng giặc phải tự tử, Tổng đốc tháo chạy, quân Thanh hoảng loạn tan vỡ đội hình vào thời nhà Nguyễn. Lịch sử tiếp tục ghi nhận những chiến công “chấn động địa cầu” qua chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, chiến thắng chống đế quốc Mỹ, thống nhất non sông, bờ cõi. Đó là kết quả của lòng dân, của sự quy tụ sức mạnh, lòng yêu nước, ý chí, niềm tin của Nhân dân, dựng nên một “pháo đài” vững chắc bảo vệ Tổ quốc.
Bước vào kỷ nguyên phát triển của dân tộc, “Thế trận lòng dân” tiếp tục phát huy sức mạnh trên mọi lĩnh vực, từ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân nhằm bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, phòng, chống các âm mưu phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết của các thế lực thù địch, đến phát triển kinh tế, xã hội hướng tới xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường. Đặc biệt, trong lĩnh vực bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, “thế trận lòng dân” không những thiết lập nên mặt trận “Quốc tế hóa bản sắc văn hóa dân tộc và dân tộc hóa tinh hoa văn hóa thế giới” mà còn là lực lượng quan trọng chống lại sự xâm nhập “bất hợp pháp” của văn hóa ngoại lai, sự “thôn tính”, “xâm lăng” văn hóa của các nước lớn.
1. Tại sao phải xây dựng thế trận lòng dân trong bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc?
Nhân tố cốt lõi để xây dựng thế trận lòng dân trong bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc chính là Nhân dân với tư cách vừa là chủ thể sáng tạo, sở hữu văn hóa vừa là đối tượng thụ hưởng văn hóa. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Trong xã hội, không có gì vẻ vang, vẻ đẹp bằng lao động. Nhân dân là người sáng tạo ra thế giới, sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần”[2] và “Nhân dân là người thẩm định và hưởng thụ các giá trị văn hóa đó. Không có nhân dân thì không có văn hóa”[3]. Đối với Người, Nhân dân là chủ thể sáng tạo ra văn hóa cũng là đối tượng thụ hưởng, bảo tồn các giá trị văn hóa đó. Quan điểm đó tiếp tục được Nghị quyết số 80/NQ-TW khẳng định: “Phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hoá, doanh nhân đóng vai trò quan trọng, đồng thời đề cao tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên”[4] và “Người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm của đổi mới sáng tạo văn hoá, đồng thời thụ hưởng trực tiếp giá trị và thành quả của văn hoá”[5]. Tiếp cận dưới góc độ nghiên cứu lý luận, có thể nhận thấy:
Thứ nhất, văn hóa không tự nhiên sinh ra, cũng không phải là sản phẩm độc quyền của tầng lớp thống trị bậc cao trong xã hội. Văn hóa bắt nguồn từ lao động, sản xuất, là sản phẩm của nhân dân lao động. Lịch sử loài người đã ghi nhận, trong quá trình chinh phục thiên nhiên để sinh tồn, người dân đã tích lũy kinh nghiệm và sáng tạo ra công cụ lao động, cách thức canh tác, xây dựng các công trình kiến trúc (đền, chùa, nhà ở), kỹ thuật đắp đê, làm gốm, đan cói, phương thức may mặc, ... Đó chính là sản phẩm của văn hóa vật chất. Cũng trong quá trình lao động, tâm hồn người dân hòa quyện với thiên nhiên, mây trời, gió núi. Những câu ca, điệu hò, điệu lý… ra đời ngay trên đồng ruộng, trên sông nước như liệu pháp tinh thần cân bằng mệt mỏi thể chất, kết nối con người và trao gửi yêu thương. Đó chính là khởi nguồn của những sản phẩm thuộc về văn hóa tinh thần. Sự xuất hiện của các sản phẩm văn hóa, loại hình văn hóa đồng hành cùng quá trình phát triển của xã hội loài người. “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”[6]. Văn hóa xuất hiện phục vụ nhu cầu sinh tồn của con người.
Thứ hai, Nhân dân là chủ thể sáng tạo văn hóa, là người chủ sở hữu văn hóa. Văn hóa thuộc về Nhân dân. Văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa truyền thống, dân gian, không thuộc về bất kỳ một cá nhân, một dòng họ quyền quý hay một cơ quan quản lý nhà nước nào. Văn hóa dân tộc là tài sản chung của cả cộng đồng. Các cơ quan chức năng của Nhà nước đóng vai trò lập quy hoạch, hỗ trợ bảo tồn và công nhận danh hiệu các di sản văn hóa, không có quyền “sở hữu” di sản thay cho người dân. Do vậy, người dân có quyền tối cao trong việc thực hành, duy trì hoặc thay đổi các yếu tố văn hóa sao cho phù hợp với đời sống của họ. Họ có quyền loại bỏ hoặc cải biên khi một phong tục không còn phù hợp với tiến bộ xã hội. Họ có quyền quyết định cách thức tổ chức một lễ hội làng, cách thức truyền dạy một nghề cổ truyền mà không ai có thể làm thay hay ép buộc bằng mệnh lệnh hành chính. Họ có quyền thừa nhận sự tồn tại của một sản phẩm văn hóa, thực hành, bảo tồn và phát triển, cải biến sản phẩm văn hóa đó. Họ cũng có quyền khước từ sản phẩm văn hóa không phù hợp bằng cách từ chối thực hành, từ chối sử dụng. Sản phẩm văn hóa chỉ tồn tại khi được Nhân dân thừa nhận, thực hành và sử dụng trong cuộc sống, lúc đó sản phẩm văn hóa mới thực sự có giá trị và được công nhận là văn hóa dân tộc.
Thứ ba, Nhân dân chính là đối tượng thụ hưởng các sản phẩm văn hóa. Nếu coi “sáng tạo” và “sở hữu” là trách nhiệm và quyền hạn, thì “thụ hưởng” là mục đích tối cao của mọi hoạt động văn hóa. Một nền văn hóa chỉ thực sự phát triển lành mạnh và nhân văn khi những thành quả của nó quay trở lại phục vụ, làm giàu cho đời sống tinh thần và vật chất của chính chủ thể đã sáng tạo và sở hữu nó.
Xét về bản chất, văn hóa không phải là thứ nghệ thuật vị nghệ thuật. Văn hóa ra đời vì “lẽ sinh tồn” của loài người. Văn hóa đáp ứng nhu cầu của đời sống, từ nhu cầu ăn, mặc, ở, nhu cầu giao tiếp, đến nhu cầu tâm linh. Các sản phẩm văn hóa trở thành nguồn “thức ăn tinh thần” không thể thiếu của con người. Nó giúp họ cân bằng cuộc sống, giải tỏa áp lực, tái tạo năng lượng, thắt chặt tình làng nghĩa xóm, bồi đắp nhân cách, giáo dục các giá trị Chân - Thiện - Mỹ, hình thành lòng yêu nước, đạo lý “làm Người” một cách tự nhiên nhất, chân thực nhất.
Trong giai đoạn hiện nay, khi các sản phẩm văn hóa trở thành nguồn lực cho ngành công nghiệp văn hóa, văn hóa số, sự thụ hưởng của Nhân dân không chỉ dừng lại ở mặt tinh thần mà đã mở rộng sang cả giá trị vật chất. Lĩnh vực kinh tế di sản phát triển, mở ra cơ hội việc làm và nguồn thu từ quá trình khai thác di sản thông qua: phát triển làng nghề, du lịch cộng đồng, thương mại đặc sản địa phương… Khi người dân được thụ hưởng văn hóa một cách trọn vẹn, họ cảm thấy cuộc sống hạnh phúc hơn, tự hào về quê hương hơn. Chính niềm tự hào và sự thỏa mãn đó sẽ kích thích họ tiếp tục gìn giữ, đóng góp trí tuệ để cải tiến, biến tấu và tái sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới phù hợp với thời đại.
Thứ tư, Nhân dân là chủ thể duy nhất có khả năng dẫn truyền di sản văn hóa qua các thế hệ. Nếu cơ quan quản lý có thể “xây nhà kho”, ban hành chính sách, cơ chế để lưu trữ di sản văn hóa, thì Nhân dân là mạch nguồn nuôi dưỡng và mang di sản văn hóa xuyên qua không gian, thời gian bằng các phương thức lưu truyền tự nhiên và sống động nhất. Họ dẫn truyền, trao truyền di sản văn hóa bằng cách thực hành hoặc truyền miệng. Phương thức “cha truyền con nối” đã bảo tồn trọn vẹn những kỹ nghệ làm gốm, dệt thổ cẩm, dệt lụa, dệt chiếu, bí quyết đúc đồng, nặn tượng, vẽ tranh Đông Hồ… Đặc biệt, các làn điệu dân ca, ví, hò, vè… được truyền dạy trực tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những đứa trẻ lớn lên trong tiếng ru của mẹ, của bà, trong không khí hội làng của cha, của ông sẽ tự động hấp thụ văn hóa dân tộc một cách tự nhiên nhất. Thế hệ sau nhìn thế hệ trước và tự động làm theo mà không cần hỏi lý do.
Cơ chế dẫn truyền văn hóa diễn ra âm thầm, bền bỉ. Những người dân bản địa quanh năm chỉ biết đồng ruộng, nương rẫy đã âm thầm nuôi dưỡng, bảo vệ tiếng nói, phong tục tập quán, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên... Họ biến ngôi nhà, hội làng thành những “thành trì” kiên cố để đẩy lùi các làn sóng xâm lăng văn hóa ngoại lai. Họ gìn giữ, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc trên tinh thần của giao lưu, tiếp biến văn hóa. Họ biết chắt lọc những mẫu văn hóa tiến bộ, phù hợp, gạt bỏ những hủ tục lạc hậu, bồi đắp làm giàu thêm, đẹp thêm bản sắc văn hóa Việt Nam.
Thứ năm, bản thân văn hóa là mũi nhọn của nền kinh tế tri thức hiện đại. Thế giới bước vào kỷ nguyên số, kỷ nguyên của khoa học công nghệ tiên tiến với nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ. Tư duy, nhận thức của con người đã thay đổi. Văn hóa không còn bị coi là một lĩnh vực tiêu dùng “ngốn ngân sách”, “đầu tư cho văn hóa là khoản đầu tư lãng phí” hay “văn hóa chỉ mang giá trị giải trí thuần túy”. Trong kỷ nguyên này, văn hóa đã trở thành nguồn lực sản xuất trực tiếp, một ngành công nghiệp bội thu đầy tiềm năng và là động lực cốt lõi cho sự phát triển.
Mang đặc điểm của ngành công nghiệp sáng tạo, văn hóa trở thành kho tài nguyên lớn nhất, giàu có nhất và không bao giờ cạn kiệt. Tài nguyên văn hóa càng khai thác, càng giàu có và sinh sôi. Từ một chất liệu văn hóa dân gian người ta có thể tạo ra các giá trị thặng dư siêu ngạch. Ngành công nghiệp văn hóa, kinh tế văn hóa số có đủ khả năng biến những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, hoặc làn điệu dân ca… thành các sản phẩm có giá trị kinh tế khổng lồ như: game bom tấn, phim điện ảnh, thời trang cao cấp, hay các show diễn thực cảnh thu hút hàng triệu đô. Ngoài ra, ý thức hệ văn hóa còn định hình giá trị thương mại thông qua hình thức “trải nghiệm văn hóa” kiến tạo nên mô hình “kinh tế trải nghiệm”, “kinh tế di sản”. Bản sắc văn hóa dân tộc chính là tài nguyên, là đường dẫn đưa đất nước vươn tầm thế giới. Bảo tồn và phát triển văn hóa trở thành câu chuyện hấp dẫn thu hút đầu tư. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các di sản văn hóa dân tộc phát huy tối ưu giá trị đích thực, vốn có của nó.
2. Xây dựng thế trận lòng dân trong bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc như thế nào?
Việc vận dụng thuật ngữ “Thế trận lòng dân” vào lĩnh vực bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc hướng tới mục tiêu duy nhất, thắp sáng ngọn lửa tình yêu di sản văn hóa trong lòng mỗi người dân. Khi ý thức được điều này, mỗi người dân sẽ trở thành một “chiến sĩ” canh giữ và phát huy bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc. “Thế trận lòng dân” ở đây không bàn về cách bày binh, bố trận, cách tuyển lựa binh sĩ tấn công, phòng thủ, cách sử dụng các loại vũ khí… mà bàn về sự đồng lòng, tự giác, biến niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của mỗi người dân thành một màng lọc, một bức tường thành vững chắc để bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trước các tác động của văn hóa ngoại lai, nguy cơ xâm lăng văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc dần mai một, nhạt phai. Thế trận này đòi hỏi phải có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “quản lý văn hóa” sang “quản trị văn hóa”, “hiến kế và trao quyền” cho Nhân dân. Cụ thể:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của Nhân dân về giá trị di sản văn hóa dân tộc, tầm quan trọng của việc bảo tồn bản sắc văn hóa, lợi ích kinh tế mà di sản văn hóa mang lại. Lòng dân chỉ đồng thuận và quy tụ khi họ hiểu, tự hào về những gì họ đang sở hữu. Con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất là đổi mới hình thức giáo dục di sản văn hóa từ gốc. Có nghĩa là, cần đưa văn hóa truyền thống, nghệ thuật dân gian, lịch sử địa phương vào trường học một cách sinh động thông qua các buổi ngoại khóa, trải nghiệm thực tế, giao lưu với nghệ nhân. Phương thức này vận hành theo cơ chế “thẩm thấu” kiểu “mưa dầm thấm lâu”. Thế hệ trẻ sẽ được tiếp cận các sản phẩm văn hóa một cách tự nhiên nhất, sinh động nhất. Trải nghiệm văn hóa dần bồi đắp thói quen thực hành văn hóa, tình yêu và niềm tự hào văn hóa. Ngoài ra, việc sử dụng mạng xã hội, các ứng dụng công nghệ, phim ảnh, và trò chơi trực tuyến để đưa vẻ đẹp văn hóa tiếp cận gần hơn với thế hệ trẻ, biến di sản thành một xu hướng thời thượng nhưng văn minh cũng là cách làm hiệu quả, tác động trực tiếp đến “lòng dân”.
Thứ hai, đặt người dân vào vị trí làm chủ không gian văn hóa. Đây là một bước tiến tư duy quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa hiện đại. Tư duy này cho phép chuyển dịch vai trò của người dân từ vị trí “khách thể” bị động sang vị trí “chủ thể” chủ động quyết định sự tồn tại, sức sống của chính không gian văn hóa đó. Xét về bản chất, làm chủ không gian văn hóa không có nghĩa là sở hữu, chiếm hữu không gian văn hóa. Làm chủ ở đây liên quan đến quyền, trách nhiệm quản lý, thực hành và định hình không gian văn hóa. Cụ thể, người dân có quyền quyết định cách thức tổ chức lễ hội, duy trì phong tục tập quán, và truyền dạy các giá trị truyền thống mà không bị hành chính hóa hay áp đặt từ bên ngoài. Các nghệ nhân, già làng, trưởng bản chính là những người giữ “lửa” và truyền “lửa”. Họ bắc nhịp cầu văn hóa qua các thế hệ, lưu giữ giá trị truyền thống qua không gian, thời gian. Về phương diện này, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ kinh phí, không gian truyền dạy để họ yên tâm chuyển giao bí quyết, kỹ nghệ cho thế hệ mai sau.
Liên quan đến không gian văn hóa, cần xác định rõ, đây không phải là nơi mở cửa đón khách du lịch mà là chính không gian sống, không gian sinh hoạt, nơi diễn ra các hoạt động của người dân, nơi phục vụ đời sống tinh thần của họ. Khi người dân được trao quyền làm chủ, họ sẽ tự giác bảo vệ, gìn giữ không gian văn hóa, đồng thời sẽ chủ động làm phong phú, làm đẹp không gian truyền thống thông qua các hoạt động mang hơi thở của thời đại như các show diễn nghệ thuật, cà phê di sản, workshop trải nghiệm. Hoạt động này giúp văn hóa luôn sống, đồng hành cùng người dân. Tóm lại, vị trí làm chủ không gian văn hóa cho phép người dân chủ động trong mọi hoạt động văn hóa, đồng thời có quyền khai thác sản phẩm văn hóa qua các hình thức du lịch cộng đồng, dịch vụ văn hóa... Nguồn thu nhập từ những hoạt động liên quan đến văn hóa sẽ quay trở lại tái đầu tư cho văn hóa, tạo thành một vòng tuần hoàn bền vững. Đó cũng là động lực thúc đẩy lòng dân, khiến “thế trận lòng dân” thêm ổn định, bền vững.
Thứ ba, phát huy vai trò chủ thể và cơ chế “tự quản” của Nhân dân. Điều này xuất phát từ cơ chế dẫn truyền văn hóa Việt Nam, từ nhà – làng – nước. Biến mỗi gia đình thành một không gian bảo tồn văn hóa, mỗi bản làng là một pháo đài kiên cố, giữ vững bản sắc văn hóa địa phương. Người dân địa phương phải là người trực tiếp quản lý và bảo vệ không gian văn hóa của chính địa phương nơi họ sinh sống. Phát huy điểm tích cực của “lệ làng” qua các hoạt động lập hương ước, quy ước. Người dân chủ động tự thảo luận, xây dựng và thực hiện các hương ước, quy ước văn hóa tại thôn, bản phù hợp với pháp luật và truyền thống tốt đẹp. Đưa các nội dung bảo tồn di sản văn hóa vào nội quy của làng, gắn di sản văn hóa với trách nhiệm của người dân. Khi người dân hiểu được giá trị lịch sử, nghệ thuật và nhân văn của di sản tại địa phương, họ sẽ nảy sinh niềm tự hào tự thân - nguồn động lực mạnh mẽ nhất để bảo vệ di sản và ứng xử văn minh với di sản văn hóa. Bên cạnh đó, cần nhân rộng các mô hình câu lạc bộ dân ca, dân vũ, trò chơi dân gian do chính người dân tự tổ chức và duy trì sinh hoạt. Xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở. Đầu tư, cải thiện hiệu quả hoạt động của các nhà văn hóa, câu lạc bộ nghệ thuật quần chúng để Nhân dân có không gian sinh hoạt, giao lưu thường xuyên. Phát huy vai trò người uy tín để định hướng, vận động người dân giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương.
Thứ tư, gắn bảo tồn văn hóa với phát triển sinh kế. Khơi dậy động lực kinh tế từ di sản văn hóa là một đòn bẩy quan trọng nhất gia tăng trách nhiệm cá nhân, gắn kết lòng dân đồng thuận bền vững. Thực tiễn minh chứng, các mô hình du lịch cộng đồng, Homestay, trải nghiệm văn hóa địa phương, phục dựng các làng nghề thủ công (dệt thổ cẩm, làm gốm, đan lát) gắn với chương trình OCOP để đưa sản phẩm ra thị trường lớn, đã gia tăng đáng kể nguồn thu nhập của người dân, giúp họ vừa ổn định, cải thiện cuộc sống gia đình, vừa giữ lại nét đẹp văn hóa tộc người. Tuy nhiên, khi tham gia vào các hoạt động du lịch di sản, người dân cần đặt lợi ích bảo tồn lên song hành với lợi ích kinh tế. Tuyệt đối không đánh đổi di sản lấy lợi nhuận ngắn hạn. Không vì lợi ích kinh tế làm “méo” di sản. Không vì thiếu hiểu biết làm tổn hại di sản. Cũng không vì khai thác quá mức, bê tông hóa cảnh quan hoặc thương mại hóa thô thiển các nghi lễ truyền thống khiến di sản bị suy thoái.
Thứ năm, thực hiện dân chủ ở cơ sở, coi đây là “chìa khóa”, là phương thức hữu hiệu nhất để khơi dậy, phát huy quyền làm chủ thực sự của Nhân dân. Khi người dân được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, được giám sát, được thụ hưởng, niềm tin của họ vào Đảng và Nhà nước sẽ được củng cố.
Thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong mọi đề án quy hoạch, bảo tồn di sản văn hóa địa phương. Mọi chính sách liên quan đến văn hóa khi triển khai xuống địa phương đều cần có sự tham gia, góp ý kiến của cộng đồng. Người dân phải thấy được họ là trung tâm của chính sách, họ được tôn trọng và thành quả bảo tồn cuối cùng là để phục vụ cho đời sống tinh thần của chính họ. Để bảo đảm hoạt động thực hiện dân chủ ở cơ sở hiệu quá, cần đổi mới tác phong cán bộ làm công tác văn hóa. Họ phải thực sự hiểu dân, trọng dân, vì dân, phải thực hiện tốt phương châm “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, gương mẫu đi đầu trong việc nếp sống văn minh. Tóm lại, thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở chính là con đường ngắn nhất và bền vững nhất để quy tụ lòng dân. Khi “lòng dân” đã đồng thuận, gắn kết thành một khối thống nhất, đó là thời điểm bức tường thành vững chắc nhất để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc được dựng nên, cũng là thời điểm, giá trị bản sắc văn hóa dân tộc được trao truyền, lan tỏa mạnh mẽ.
THAY LỜI KẾT
Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc chính là bảo tồn, phát triển những giá trị văn hóa bền vững, diện mạo, linh hồn và tính cách dân tộc Việt Nam được hình thành và tích lũy qua hàng ngàn năm lịch sử. Hệ giá trị văn hóa ấy là nguồn lực nội sinh, là chất keo gắn kết người Việt, là niềm tự hào, tự tôn dân tộc, cũng là nhịp cầu nối thúc đẩy hợp tác kinh tế, chính trị, đưa đất nước Việt Nam vươn tầm quốc tế. Định hướng “Quốc tế hóa bản sắc văn hóa dân tộc và dân tộc hóa tinh hoa văn hóa thế giới” đã đặt ra nhiệm vụ mang tầm chiến lược. Các thế trận truyền thông, thế trận pháp lý, thế trận lòng dân được xây dựng nhằm mục tiêu bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. hiện thực hóa nhiệm vụ “Xây dựng Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài, lấy văn hoá làm nền tảng, trụ cột, lan toả hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam là một quốc gia giàu bản sắc văn hoá, nhân văn, có trách nhiệm, đóng góp tích cực vào dòng chảy văn minh của nhân loại”[7]./
Thiếu tướng Nguyễn Như Lôi – Phó GĐ Học viện
Thượng tá Nguyễn Tuyết Lan
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80/NQ-TW, ngày 07/01/2026 về Phát triển văn hóa Việt Nam.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đạo đức lao động, Báo Cứu quốc, tháng 6/1952.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.109.
[2] Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đạo đức lao động, Báo Cứu quốc, tháng 6/1952.
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.
[4] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80/NQ-TW, ngày 07/01/2026 về Phát triển văn hóa Việt Nam.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t3, tr.458.
[7] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80/NQ-TW, ngày 07/01/2026 về Phát triển văn hóa Việt Nam.