Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch về phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, các thế lực thù địch xác định: chống phá về chính trị là trọng tâm, tư tưởng văn hóa là khâu đột phá, lĩnh vực kinh tế làm mũi nhọn. Riêng đối với kinh tế, chúng xác định, chuyển hóa về kinh tế sẽ chuyển hóa về chính trị, do vậy, chúng đã tìm cách thúc đẩy kinh tế thị trường tự do, “tư nhân hóa” kinh tế song song với chống phá kinh tế nhà nước, tập thể, làm mất vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, chuyển hóa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chệch hướng sang quỹ đạo của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Để thực hiện âm mưu, ý đồ trên, các thế lực thù địch, phản động, đối tượng cơ hội chính trị đã tuyên truyền bằng nhiều luận điệu rằng: “Việt Nam đang phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, ở Việt Nam hiện nay chủ nghĩa tư bản đang diễn ra một cách cuồng nhiệt”; “Phát triển kinh tế tư nhân là quay lại đúng quỹ đạo để phát triển theo tư bản chủ nghĩa, mở đường cho “tư nhân hóa”, “tự do hóa” về kinh tế và “dân chủ”, “nhân quyền” về chính trị ở Việt Nam”; “Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thực chất là tư nhân hóa nền kinh tế quốc dân”... Có thể thấy, đây là những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch nhằm “diễn biến” chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, thể hiện qua những điểm sau đây:

Một là, xét về cơ sở lý luận, thành phần kinh tế được hình thành dựa trên hình thức sở hữu tương ứng. Cơ sở của kinh tế tư nhân xuất phát từ hình thức sở hữu tư nhân. Trong lịch sử, sở hữu tư nhân xuất hiện ngay từ khi phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy tan rã và xã hội chiếm hữu nô lệ ra đời. Sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân manh nha ra đời từ rất sớm và là khái niệm không đồng nhất với chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản có đặc trưng cơ bản là gắn liền với sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và kinh tế tư bản tư nhân. Do vậy, luận điệu cho rằng, “Việt Nam đang phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, ở Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa tư bản đang diễn ra một cách cuồng nhiệt”, hay “Phát triển kinh tế tư nhân là quay lại đúng quỹ đạo để phát triển theo tư bản chủ nghĩa”, mở đường cho “tư nhân hóa”, “tự do hóa” về kinh tế và “dân chủ”, “nhân quyền” về chính trị ở Việt Nam... là hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Luận điệu này mang tính suy diễn, xuyên tạc, để “diễn biến” chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; cố tình định hướng nhận thức sai lệch thực tiễn đất nước đang theo con đường kinh tế tư bản chủ nghĩa; đồng thời, hướng lái kinh tế đi theo quỹ đạo, chệch hướng mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Hai là, trong điều kiện thực tiễn Việt Nam, có thể thấy rằng, không phải bây giờ mà từ khi đổi mới, phát triển kinh tế tư nhân là một vấn đề mang tính chiến lược lâu dài được Đảng và Nhà nước khẳng định, từng bước phát triển, hoàn thiện tư duy lý luận và thực tiễn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, được bổ sung và hoàn thiện qua mỗi giai đoạn phát triển của đất nước.

Năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nhiều thành phần chính thức được thừa nhận. Đại hội VI (tháng 12-1986), Đảng ta khẳng định: Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế. Ngày 05-4-1988, Bộ Chính trị (khóa VI) ban hành Nghị quyết số10-NQ/TW “Về chính sách kinh tế nhiều thành phần” tiếp tục khẳng định, nhất quán thực hiện và tạo bước khởi đầu quan trọng đối với kinh tế tư nhân ở Việt Nam, mở đường cho những bước phát triển đột phá sau này. Văn kiện Đại hội VII khẳng định, kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước và mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp. Văn kiện Đại hội VIII (tháng 6-1996) xác định, khuyến khích mọi doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước khai thác các tiềm năng, ra sức đầu tư phát triển; đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài. Năm 2002, Hội nghị lần thứ năm (khóa IX) thông qua Nghị quyết về “Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”. Đây là lần đầu tiên Đảng ta có một nghị quyết chuyên đề về kinh tế tư nhân.

Với nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng và ý nghĩa chiến lược phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đại hội XI (tháng 01-2011), Đảng ta tiếp tục xác định chủ trương phải hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Đại hội XII (tháng 12-2016), Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII) chính thức xác nhận: Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Đây là sự khẳng định mạnh mẽ, dứt khoát hơn quan điểm của Đảng khi coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Về thực tiễn, kinh tế tư nhân đã phát triển trên nhiều phương diện, được tự do kinh doanh và đối xử bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, nhất là trong tiếp cận các yếu tố sản xuất và các loại thị trưởng, hiệu quả, sức cạnh tranh dần được nâng lên; hoạt động đa dạng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực và các vùng, miền; bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Thực tế, kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm từ 40% đến 42% GDP của đất nước; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế đã góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội. Đội ngũ doanh nhân ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng, có khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng, không ngừng nâng cao năng lực kinh doanh và trình độ quản trị doanh nghiệp; trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh dần được nâng lên.

Như vậy, nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đã có những bước tiến quan trọng, ngày càng tích cực, đầy đủ hơn. Thực tiễn cũng chứng minh, những năm qua, kinh tế tư nhân có đóng góp ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân, góp phần tích cực phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm, thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân. Do vậy, luận điệu trên là hoàn toàn xuyên tạc nhằm cố tình phủ nhận thể chế chính trị xã hội xã hội chủ nghĩa ưu việt của Việt Nam.

Ba là, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là một trong những giải pháp được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nhằm tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước để làm tốt vai trò dẫn dắt phát triển các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác. Đây là một chủ trương đúng đắn đối với nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả, cổ phần hóa để cấu trúc, cơ cấu lại, huy động vốn từ chủ thể của các thành phần kinh tế khác, nâng cao hiệu quả quản lý và hoạt động. Hệ thống doanh nghiệp nhà nước hoạt động có chất lượng, hiệu quả, từ đó bảo đảm doanh nghiệp Việt Nam thật sự trở thành lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Doanh nghiệp nhà nước do nhà nước nắm giữa 100% vốn điều lệ hoặc cổ phần với vốn góp chi phối; được tổ chức và hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn. Doanh nghiệp nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, những địa bàn quan trọng về quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư. Vì vậy đây không phải là chủ trương “tư nhân hóa” doanh nghiệp nhà nước. Luận điệu như vậy là không đúng bản chất và hoàn toàn xuyên tạc, sai trái, nhằm tạo nhận thức lệch lạc, không đúng về chủ trương, đường lối tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước cũng như phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Rõ ràng, mục đích của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị là muốn thúc đẩy tuyệt đối hóa xu hướng “tư nhân hóa” trong nền kinh tế, từ đó thúc đẩy “tự do hóa” về chính trị, mở đường cho các tổ chức chính trị đối lập ra đời, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong một thể chế chính trị được lịch sử và nhân dân lựa chọn ở Việt Nam, tính ưu việt đã được lý luận và thực tiễn khẳng định thì vai trò của kinh tế nhà nước là “chủ đạo”, “nền tảng”, trong đó doanh nghiệp nhà nước là nòng cốt đã được xác lập để đảm bảo tính đặc thù, riêng có, ưu việt của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước là một đòi hỏi thực tiễn trong nhiều năm qua, trong đó “đổi mới”, “tái cấu trúc”, “cơ cấu lại” được xác định là giải pháp căn cơ. Trong quá trình này, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một xu hướng chủ đạo. Mà “cổ phẩn hóa” xét về mặt bản chất (thành phần kinh tế tập thể hầu như không tham gia vào quá trình này) không phải là “tư nhân hóa” doanh nghiệp nhà nước nhà nước một cách hoàn toàn. Có những doanh nghiệp nhà nước hiệu quả kinh tế không cao cần tăng số lượng chủ thể sở hữu, huy động vốn, tận dụng vốn của các chủ thể trong thành phần kinh tế khác, tỷ lệ vốn nhà nước vẫn chiếm tỷ lệ chi phối, có doanh nghiệp thua lỗ phải giải thể, khoán, bán, sát nhập. Cũng cần nhận thức rõ, không lấy số lượng doanh nghiệp nhà nước được “cổ phần hóa” như là một thành tích điểm hình trong “cơ cấu lại” để nâng cao hiệu quả. Cổ phần hóa làm cho chủ sở hưu tăng lên, trách nhiệm đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng lên, vì vậy mà hiệu quả hoạt động sẽ nâng lên. Tuy nhiên, cần có nghiên cứu lý luận, xây dựng mô hình thực tiễn về phương thức quản lý đối doanh nghiệp nhà nước về con người, cơ cấu tổ chức bộ máy, vốn, hoạt động sản xuất kinh doanh... xem liệu còn có biện pháp khác hay hơn để không phải “cổ phần hóa” mà vẫn nâng cao được hiệu quả hoạt động của doanh nhiệp nhà nước?

Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là phương sách quan trọng để giải phóng sức sản xuất; huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển.

Để kinh tế tư nhân là động lực phát triển nền kinh tế, không còn tâm lý kỳ thị, có nhận thức đúng đắn, không tạo sơ hở, thiếu sót, tạo điều kiện cho thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị lợi dụng xuyên tạc cần thống nhất về mặt nhận thức và hành động những quan điểm của Đảng và Nhà nước những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao.

Thứ hai, xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng. Phát huy mặt tích cực, có lợi cho đất nước của kinh tế tư nhân, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực, nhất là phòng, chống mọi biểu hiện “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, “quan hệ, lợi ích nhóm”, thao túng chính sách, cạnh tranh không lành mạnh để trục lợi.

Thứ ba, kinh tế tư nhân được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực pháp luật không cấm. Phát huy phong trào khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạo môi trường điều kiện thuận lợi để các hộ kinh doanh tự nguyện liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác hoặc hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Khuyến khích các hình thức các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn và các tập đoàn kinh tế nhà nước.

Thứ tư, khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia góp vốn, cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa hoặc Nhà nước thoái vốn. Thúc đẩy phát triển mọi hình thức liên kết sản xuất, kinh doanh, cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo mạng sản xuất, chuỗi giá trị thị trường giữa kinh tế tư nhân với các thành phần kinh tế khác, nhằm tiếp nhận, chuyển giao, tạo sự lan tỏa rộng rãi về công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, mở rộng thị trường.

Thứ năm, chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần tự lực, tự cường, lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của các chủ doanh nghiệp. Phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng vững mạnh, có ý thức chấp hành phát luật, trách nhiệm với xã hội và kỹ năng lãnh đạo, quản lý, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức doanh nhân.

 

Lê Thế Cương - Học viện Chính trị CAND

Nguồn Tạp chí lý luận chính trị CAND

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Xem nhiều nhất

Liên kết website