Phản bác quan điểm “Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công”

Tham nhũng là một hiện tượng kinh tế - xã hội, gắn liền với sự hình thành giai cấp và sự ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước. Tham nhũng diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở tất cả các quốc gia trên thế giới, không phân biệt giàu, nghèo hay trình độ phát triển, không phụ thuộc vào chế độ chính trị.

Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam, dù có những cách hiểu và diễn đạt khác nhau, nhưng tựu trung lại có thể thấy, tham nhũng luôn gắn với quyền lực và lợi ích cá nhân; tham ô, tham nhũng có bản chất, nguồn gốc từ hành vi của những người có chức, có quyền (kể cả trong và ngoài khu vực nhà nước) đã lợi dụng chức, quyền đó cấu kết để tham ô, nhận hối lộ, hoặc không có chức, quyền nhưng có hành vi cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi. Nguồn gốc sâu xa của tệ tham nhũng là ở sự gặp nhau của hai yếu tố: Sự tồn tại, phát triển của xã hội luôn đòi hỏi phải có những cơ quan quyền lực để điều hòa những lợi ích khác nhau, mà quyền lực luôn có nguy cơ bị “tha hóa”, trong khi tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực; Quyền lực bao giờ cũng được hiện diện và thực thi thông qua những con người cụ thể, mà con người cụ thể thường sống và hành động theo lợi ích. Đặc trưng hành vi của người tham nhũng là “lấy của công làm của tư”.

Việt Nam đang kiên trì đi lên chủ nghĩa xã hội - con đường đúng đắn mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử, là khát vọng của nhân dân ta. Xã hội đó đã, đang và sẽ không bao giờ chấp nhận sự tồn tại của tham nhũng. Tham nhũng không phải là một hiện tượng tất yếu, vĩnh cửu, nó không thể tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người nói chung cũng như ở Việt Nam hiện nay nói riêng. Do vậy, tham nhũng không phải là vấn đề thuộc bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Từ khi thành lập Đảng đến nay, cuộc đấu tranh chống tệ nạn tham nhũng luôn gắn liền với quá trình xây dựng Đảng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam. Trong công cuộc đổi mới, công tác phòng, chống tham nhũng luôn được Đảng, Nhà nước ta xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, vừa cấp bách, khó khăn, vừa phức tạp, lâu dài. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ: “Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ và nhân viên nhà nước, những hoạt động của bọn làm ăn phi pháp... chưa bị trừng trị nghiêm khắc và kịp thời” (1). Đại hội Đảng lần thứ VII, Đảng ta tiếp tục nhận định: “... tình hình thất thoát lớn tài sản xã hội chủ nghĩa, tham nhũng, buôn lậu, đạo đức suy đồi... đang là những vấn đề nóng bỏng” (2). Đến Hội nghị Trung ương 3 (khóa X), Đảng đã ban hành nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Trong nhiệm kỳ Đại hội XI, mà tập trung là Hội nghị Trung ương 4, Đảng đã thẳng thắn chỉ ra: “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp” (3), là vấn đề nóng không chỉ gây bức xúc xã hội mà còn “làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước” (4). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục nêu rõ: “Nhiều cấp ủy đảng, chính quyền các cấp chưa thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt mục tiêu, yêu cầu. Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng,... xảy ra trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều cấp, nhiều ngành... đe dọa sự tồn vong của chế độ” (5).

Về mặt quản lý nhà nước, ngay từ những năm đầu đổi mới, việc thành lập các ban công tác chống tham nhũng tại các tỉnh, thành phố và các bộ, ngành sau khi có Quyết định số 240 (năm 1990) của Hội đồng Bộ trưởng và Ban Công tác chống tham nhũng, chống buôn lậu của Chính phủ (thành lập theo Quyết định số 35/QĐ-TTg ngày 19-01-1996 của Thủ tướng Chính phủ) đã mang lại những kết quả nhất định. Tuy nhiên, hoạt động của các đơn vị này chưa đạt được kết quả như mong muốn. Các quy định về phòng, chống tham nhũng chưa đầy đủ và chưa được thực hiện nghiêm túc, thiếu một cơ quan có trách nhiệm làm đầu mối theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện. Để khắc phục tình trạng trên, Pháp lệnh Chống tham nhũng đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành năm 1998 và được sửa đổi, bổ sung năm 2000 là cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác đấu tranh chống tham nhũng. Nhờ đó, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta bước đầu đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, việc thực hiện Pháp lệnh Chống tham nhũng trong giai đoạn này còn bộc lộ nhiều khuyết điểm, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập và phát triển. Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998, Luật Phòng, chống tham nhũng được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29-11-2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-6-2006 được coi là một “liệu pháp” mới cho cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Bên cạnh đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành nhiều nghị định, quyết định, chỉ thị để cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), Luật Phòng, chống tham nhũng, Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 và kế hoạch thực thi Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng... Trong đó, có các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập; chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công, như: trụ sở, trang thiết bị và phương tiện làm việc; tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng; xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng; vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng; trả lương qua tài khoản đối với các đối tượng hưởng lương từ ngân sách; đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng...

Sau hơn 4 năm thực hiện kết luận của Tổng Bí thư tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về phòng, chống tham nhũng (năm 2014) và nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, với quyết tâm chính trị cao cùng các bước đi cẩn trọng, chắc chắn, sự vào cuộc quyết liệt của các tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và cả hệ thống chính trị từ Trung ương tới địa phương, công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian gần đây đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận; vai trò, trách nhiệm, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng đã được nâng lên; công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế về kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh, vừa có tính chất cảnh báo, răn đe, ngăn chặn, vừa là căn cứ để phát hiện, xử lý vi phạm. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được chỉ đạo quyết liệt, chặt chẽ, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các vi phạm; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước, góp phần đắc lực trong việc nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng. Từ năm 2014 đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 840 tổ chức đảng và 58.120 đảng viên, trong đó có gần 2.720 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái pháp luật. Tập trung thanh tra, kiểm toán các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh sai phạm, tham nhũng, đã kiến nghị thu hồi hơn 200 nghìn tỷ đồng, chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự hơn 340 vụ với 436 đối tượng (6).

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã chỉ đạo quyết liệt, đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, kịp thời nhiều vụ án tham nhũng kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp với những mức án nghiêm khắc và nhân văn, tích cực thu hồi tài sản tham nhũng, không có “vùng cấm”, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai.

Công tác cải cách thủ tục hành chính ngày càng công khai, minh bạch, các giải pháp phòng ngừa tham nhũng được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đạt kết quả tích cực. Công tác cán bộ được đổi mới theo hướng mở rộng dân chủ, nhất quán, chặt chẽ; văn bản về công tác cán bộ được ban hành, giải quyết các vấn đề tồn đọng, kiên quyết xóa bỏ tình trạng chạy chức, chạy quyền; không còn “vùng cấm” trong xử lý cán bộ vi phạm. Công tác thông tin, tuyên truyền được quan tâm, phát huy vai trò tích cực của các cơ quan truyền thông; vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và người dân trong phòng, chống tham nhũng ngày càng được nâng cao; các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng được chú trọng kiện toàn, tích cực nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động.

Có thể thấy rằng, công tác phòng, chống tham nhũng đã có những bước tiến mạnh, đột phá trong cả nhận thức và hành động, đạt được những kết quả toàn diện, để lại dấu ấn tốt, được nhân dân cả nước ủng hộ, các tổ chức quốc tế đánh giá tích cực. Tham nhũng đang từng bước được kiềm chế và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Thực tế cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế đang có nhiều thay đổi, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Công tác phòng, chống tham nhũng ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có sự chuyển biến rõ rệt, vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, nể nang, né tránh, ngại va chạm; việc phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; việc tự kiểm tra, phát hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ cơ quan, đơn vị vẫn là khâu yếu. Tham nhũng vẫn diễn ra nghiêm trọng với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên diện rộng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực, làm cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, gây bức xúc trong dư luận, là thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước...

Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân, trong đó cơ bản là do một số cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thực hiện chưa quyết liệt; công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng mới tập trung đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, chưa lan tỏa đến cấp cơ sở và mọi tầng lớp nhân dân; thể chế, chính sách, pháp luật về kinh tế - xã hội và trên một số lĩnh vực còn sơ hở, chưa phù hợp với thực tiễn. Việc thực thi pháp luật nói chung và thực hiện các quy định của Đảng, Nhà nước nói riêng chưa nghiêm; cơ chế kiểm soát quyền lực không đủ mạnh, chậm được hoàn thiện; hệ thống thanh tra, kiểm tra, kiểm toán có nơi, có lúc chưa thực sự hoạt động hiệu quả; công tác cán bộ nói chung và việc quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức nói riêng còn yếu kém; một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu tu dưỡng, rèn luyện, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; còn xảy ra tình trạng cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả cán bộ lãnh đạo cao cấp còn thiếu gương mẫu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, chưa đi đầu trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm; mô hình tổ chức các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống tham nhũng còn thiếu ổn định, quyền hạn chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao; phương tiện, điều kiện làm việc còn bất cập; việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng còn gặp nhiều khó khăn; chưa phát huy tốt sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhân dân, báo chí và truyền thông trong phòng, chống tham nhũng...

Thời gian tới, để tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 khóa X; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các lực lượng chức năng cần quán triệt và thực hiện tốt một số quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, về mặt quan điểm, nhận thức, cần xác định đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng; là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài; là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và của toàn bộ hệ thống chính trị. Kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí với yêu cầu chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí hoặc bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí.

Hai là, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật; củng cố và hoàn thiện cơ cấu, thể chế, phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước pháp quyền. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để bảo đảm công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí có hiệu lực, hiệu quả, nhất là trong các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao, như: quản lý và sử dụng đất đai; khai thác tài nguyên, khoáng sản; thu, chi ngân sách, mua sắm công, tài chính, ngân hàng; thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; giáo dục, đào tạo và y tế...

Ba là, tăng cường tuyên truyền, phổ biến quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí nhằm nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, từ đó tạo sự thống nhất, tự giác, quyết tâm cao trong hành động. Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng phải cổ vũ, động viên sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, huy động sức mạnh của toàn dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp” (7) như lời Bác Hồ đã căn dặn.

Bốn là, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan có chức năng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, trong đó chú trọng tuyển dụng, bố trí, sử dụng cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng phải thật sự liêm, chính, trong sạch, gương mẫu, trọng liêm sỉ. Thiết lập cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực hiệu quả; xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”; chống đặc quyền, đặc lợi, khắc phục “tư duy nhiệm kỳ”; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí; có cơ chế, chính sách hữu hiệu để khuyến khích, khen thưởng và bảo vệ an toàn cho người phát hiện, tố cáo tham nhũng và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở, bảo đảm chất lượng cuộc sống cho cán bộ, đảng viên, công chức để góp phần phòng, chống tham nhũng; kiên quyết, kiên trì xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe, trừng trị để không xảy ra tham nhũng.

 

Đặng Công Thành

Nguồn Tạp chí Lý luận chính trị CAND

 

(1), (2)  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 17, 247.

(3), (4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 173.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 196.

(6) Cao Văn Thống, Vai trò kiểm tra, giám sát của Đảng trong phát hiện, thu hồi tài sản tham nhũng: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Nội chính, số chuyên đề, tháng 9-2018, tr. 14.

(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 419.

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Xem nhiều nhất

Liên kết website