MỘT SỐ CHÍNH SÁCH ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC CỦA TRUNG QUỐC TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

 

Trung Quốc là quốc gia có dân số lớn nhất thế giới, việc đảm bảo an ninh lương thực luôn được coi là vấn đề quan trọng sống còn, là vấn đề an ninh quốc gia hệ trọng. Kể từ khi tiến hành đường lối cải cách mở cửa, vấn đề đảm bảo lương thực đã luôn được coi trọng, an ninh lương thực đã bước đầu đạt được những thành tựu quan trọng nhưng vẫn chưa bền vững. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Trung Quốc tiếp tục coi trọng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia với nhiều chính sách điều chỉnh quan trọng. Bài viết này trước hết khái quát tình hình nổi bật về an ninh lương thực của Trung Quốc trong những thập kỷ gần đây và trọng tâm phân tích quan điểm, chính sách đảm bảo an ninh lương thực của Trung Quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Ảnh: CGTN

1. Tình hình nổi bật về an ninh lương thực của Trung Quốc

- Cung cấp lương thực trong nước của Trung Quốc đã được cải thiện từ những thập kỷ đầu của thiên nhiên kỷ thứ 3

Là một quốc gia có dân số đứng đầu thế giới (khoảng trên 1,4 tỷ người, chiếm hơn 18% dân số thế giới), an ninh lương thực luôn là vấn đề quan trọng ở Trung Quốc. Trước khi tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa, Trung Quốc đã phải giải quyết vấn đề đói nghèo do các vùng nông thôn của đất nước thiếu nguồn cung cấp lương thực. Hiện nay, Trung Quốc phải đảm bảo sự tự cung tự cấp về lương thực của mình cũng như đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lương thực cho tăng trưởng kinh tế. Trung Quốc đã có những cải thiện đáng kể trong việc ngăn chặn nước này gặp vấn đề an ninh lương thực trong những thập kỷ gần đây. Một trong những yếu tố tác động trong cải thiện vấn đề an ninh lương thực là tăng cường năng lực nông nghiệp kể từ năm 2000.

So sánh năng lực nông nghiệp của Trung Quốc qua gia tăng về máy móc và công cụ giữa năm 2000 và năm 2011, cho thấy có một sự gia tăng rõ ràng trong các máy kéo nông nghiệp cỡ vừa và lớn. Năm 2000, đã có 974,547 đơn vị máy kéo nông nghiệp vừa và lớn và năm 2011 đã tăng lên 4.406.471 chiếc, tăng khoảng 352%. Một sự gia tăng đáng kể khác là số máy móc thiết bị kéo máy kéo lớn và vừa, tăng từ 1.400.000 chiếc trong năm 2000 lên 6.990.000 vào năm 2011.

Một lý do khác là nguồn cung cấp lương thực trong nước của Trung Quốc có thể đáp ứng nhu cầu trong phạm vi lớn hơn là năng suất sản xuất tăng lên của các khu vực gieo trồng ngũ cốc chính.Trước hết, tổng diện tích trồng cây ngũ cốc chính (bao gồm lúa gạo, lúa mỳ và ngô) đã tăng 10,3% từ năm 2000, với 79,7 triệu ha) đến năm 2011, với 87,9 triệu ha; mặc dù tổng diện tích gieo trồng trong giai đoạn 2001 - 2003 giảm.

Ngoài ra, năng suất của ngũ cốc chính cũng đã được cải thiện. Năm 2000, sản lượng trung bình của ngũ cốc trên một ha đất gieo trồng là 4.753kg, tăng lên mức 5.707kg/ha vào năm 2011. Tổng hợp tốc độ tăng trưởng năng suất trung bình các ngũ cốc chính hàng năm trong giai đoạn 2000 -2011 là 2,03%. Trong số ba loại ngũ cốc này, gạo và ngô có mức sản lượng khoảng 200 triệu tấn vào năm 2011. Sản lượng lúa mỳ thấp hơn đáng kể, khoảng 117,4 triệu tấn trong năm 2011. Thịt lợn, thịt bò và thịt cừu là những loại thịt chính được tiêu dùng ở Trung Quốc. Trong ba loại thịt này, sản lượng thịt lợn trong nước lớn hơn thịt bò và thịt cừu trong giai đoạn năm 2006 - 2011. Sản lượng thịt lợn ở mức không đổi mỗi năm hơn 4 triệu tấn trong khi đó sản lượng thịt bò và thịt cừu chiếm ít hơn, khoảng 1 triệu tấn. Năm 2006, tổng sản lượng của ba loại thịt này là 55,9 triệu tấn và tăng 9,0% lên 61,0 triệu tấn vào năm 2011.

- Nhu cầu thương mại lương thực giữa Trung Quốc với thế giới

Mặc dù Trung Quốc đã cải thiện năng suất ngũ cốc chính và khả năng cung cấp lương thực trong nước nhưng vấn đề an ninh lương thực chưa bền vững xét theo chỉ số đói nghèo toàn cầu (Global Hunger Index - GHI). Do đó, Trung Quốc vẫn cần phải tìm kiếm nguồn cung lương thực ở nước ngoài để đảm bảo cung cấp đầy đủ lương thực thực phẩm.

Theo số liệu của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), giá trị nhập khẩu nông sản của Trung Quốc tăng nhanh từ năm 2000, và giá trị kim ngạch nhập khẩu cũng bắt đầu vượt mức giá trị xuất khẩu kể từ năm đó. Năm 2011, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 144,7 tỷ USD, tổng giá trị xuất khẩu đạt 64,6 tỷ USD; Sự khác biệt của 80,1 tỷ đô la Mỹ là mức cao kỷ lục trong 30 năm qua. Đối với thương mại các sản phẩm thực phẩm (không bao gồm các sản phẩm nông nghiệp), Trung Quốc cũng chuyển từ nước xuất khẩu ròng sang nước nhập khẩu ròng từ năm 2008. Từ năm 2008 đến năm 2011, có xu hướng tăng tổng chi phí nhập khẩu ròng từ 13,6 tỷ USD (năm 2008) lên 21,3 tỷ USD (năm 2011).

- Trung Quốc cần tìm nguồn cung cấp lương thực từ nước ngoài.

Sự cải thiện năng lực nông nghiệp không có nghĩa là Trung Quốc có thể tự cung tự cấp trong nhu cầu lương thực của mình về lâu dài và cần phải tìm kiếm nguồn cung cấp lương thực thực phẩm ở nước ngoài thông qua nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong điều kiện dân số đông và thu nhập ngày càng tăng. Điều này dựa do tác động của bốn yếu tố cơ bản sau: (1) Mặc dù năng lực sản xuất lương thực đã được cải thiện thời gian gần đây, nhưng Trung Quốc vẫn đứng trước vấn đề an ninh lương thực chưa bền vững do có chỉ số đói nghèo cao. Cùng với tăng trưởng kinh tế, nhu cầu lương thực ở Trung Quốc đã tăng lên đến mức Trung Quốc cần nhập khẩu nhiều lương thực từ nước ngoài. Sự gia tăng trong sản xuất lương thực trong nước không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. (2) Trong 10 năm qua, diện tích gieo trồng hạt ngũ cốc chính (ngô, lúa mì và gạo) chỉ tăng lên một lượng nhỏ. Đối với các loại cây trồng chính khác như đậu tương, củ, đậu phộng và hạt cải dầu, tổng diện tích gieo trồng thậm chí còn giảm. Hơn nữa, nhiều nghiên cứu cho rằng, tổng diện tích gieo trồng ở Trung Quốc có thể giảm hơn nữa do sự đô thị hoá đang tăng lên. (3) Nguồn nước ngọt bị hạn chế ở Trung Quốc. Do đó, năng suất của sản xuất nông nghiệp còn hạn chế vì nước là một thành phần thiết yếu cho nông nghiệp và ô nhiễm nguồn nước không dễ được cải thiện trong ngắn hạn. (4) Hệ thống tự động hoá nông nghiệp bị tụt hậu theo tiêu chuẩn quốc tế. Điều này thể hiện qua tổn thất sau thu hoạch nghiêm trọng (bảo quản kém), cơ sở hạ tầng yếu kém cho các hệ thống vận tải và hỗ trợ, và xu thế yếu kém trong hợp tác công nghiệp trong ngành nông nghiệp[1].

          2. Quan điểm và chính sách an ninh lương thực của Trung Quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa

          Các học giả Trung Quốc cho rằng: An ninh lương thực là không để người dân bị đói, đảm bảo cung ứng khẩu phần lương thực cho người dân trong bất cứ tình huống nào. An ninh lương thực vừa bao gồm an ninh lương thực vĩ mô vừa bao gồm an ninh lương thực vi mô; lương thực vĩ mô không đảm bảo thì lương thực vi mô cũng không an ninh. Nâng cao khả năng tự cung tự cấp lương thực trong cả nước là nền tảng của việc thực hiện an ninh lương thực (Cốc Nguyên Dương, 2003). Từ quan niệm trên nảy sinh hai yêu cầu với an ninh lương thực quốc gia của Trung Quốc: (1) Trọng tâm của an ninh lương thực là năng lực sản xuất lương thực để đáp ứng nhu cầu lương thực trong mọi thời điểm và tình huống. (2) Chỉ có xóa tận gốc đói nghèo và tham nhũng, giải quyết an ninh lương thực trên bình diện vi mô mới có thể tiến tới an ninh lương thực toàn diện bền vững.

          Mất an ninh lương thực bao gồm mất an ninh lương thực tạm thời và mất an ninh lương thực lâu dài (kinh niên). Tăng cường năng lực cung ứng lương thực ổn định và năng lực đảm bảo thu nhập của người dân, giảm thiểu đói nghèo là các giải pháp phòng tránh rủi ro mất an ninh lương thực. Ngoài ra, mất an ninh lương thực đến từ các rủi ro như: (1) Rủi ro thiên nhiên. Đây là rủi ro gắn liền song hành với sản xuất và nhập khẩu lương thực. (2) Rủi ro thương mại. Do năng lực xuất khẩu lương thực trên thế giới chịu sự hạn chế bởi tài nguyên thiên nhiên là có hạn đồng thời chịu tác động của xu hướng tự do hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa buộc các nước phải hạ thấp và bỏ hẳn trợ cấp cho sản xuất lương thực và giảm thuế suất nhập khẩu lương thực. (3) Rủi ro chính sách. Qua nghiên cứu về các cuộc khủng hoảng lương thực trong quá khứ đều có liên quan đến những sai lầm về chính sách. (4) Rủi ro ngoại giao. Xu hướng hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo nhưng trong quan hệ quốc tế vẫn tồn tại những hành vi và chính sách thù địch, cấm vận. Lương thực với tư cách là nguồn tài nguyên chiến lược đặc biệt có khả năng thành “vũ khí chính trị” trong trường hợp xung đột,chiến tranh (Cốc Nguyên Dương, 2003). Ngoài ra, một trong những thách thức cơ bản của an ninh lương thực là điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa (Nhung Điện Tân, 2003).

          Trên cơ sở nhận thức trên về an ninh lương thực, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp cơ bản, chiến lược để đảm bảo an ninh lương thực của Trung Quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa là:

          Một là, xây dựng thể chế an ninh lương thực, trong đó quan trọng là xác định ranh giới giữa tự sản xuất lương thực và nhập khẩu lương thực. Trong đó, tự sản xuất lương thực là cách đảm bảo an ninh lương thực hiệu quả nhất và đáng tin cậy trong trường hợp có rủi ro thương mại và ngoại giao. Tỷ lệ tự sản xuất lương thực hay tự cấp lương thực không được thấp hơn 95% và tỷ lệ nhập khẩu lương thực không được vượt quá 10% (Cốc Nguyên Dương, 2003; Vương Dật Châu và cộng sự, 1999).

          Trong xây dựng thể chế an ninh lương thực của Trung Quốc, nội dung  được chú ý là xây dựng hệ thống cảnh báo an ninh lương thực với các chỉ số cân bằng và dự báo an ninh lương thực. Điều này nhằm khắc phục tình trạng dư thừa hoặc thiếu hụt lương thực. Trường hợp lương thực thiếu hụt đương nhiên ảnh hưởng đến an ninh lương thực nhưng lương thực dư thừa quá mức cũng ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh lương thực. Nếu lương thực dư thừa quá mức sẽ ảnh hưởng đến công tác dự trữ, giá cả và chính sách của nhà nước, từ đó ảnh hưởng đến động lực sản xuất và cung ứng lương thực trong tương lai, làm thay đổi cân bằng cung cầu, ảnh hưởng xấu đến an ninh lương thực.

          Hai là, điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa gắn liền với mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

          Điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp là vấn đề cấp bách đặt ra đối với Trung Quốc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Một mặt, nó nhằm đáp ứng nhu cầu nội tại của bản thân nền nông nghiệp và an ninh lương thực của Trung Quốc, mặt khác nó do những yêu cầu khách quan từ quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đặt ra. Quá trình điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp của Trung Quốc hướng đến mục tiêu chiến lược (dài hạn) và mục tiêu cụ thể (ngắn hạn). Mục tiêu chiến lược của điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp Trung Quốc là xây dựng nền nông nghiệp hiện đại hóa, nhất thể hóa với sản phẩm chất lượng cao, năng suất cao, có thể đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và phát triển bền vững. Mục tiêu cụ thể trước mắt là nhằm giải quyết các vấn đề của hội nhập kinh tế quốc tế như phát huy lợi thế so sánh về sản xuất lương thực giữa các vùng, nâng cao giá trị gia tăng của mặt hàng nông sản, lương thực; chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp; phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với thị trường quốc tế .v.v… (Nhung Điện Tân, 2003).

          Các nguyên tắc trong điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp gắn với an ninh lương thực (Nhung Điện Tân, 2003). Nguyên tắc cơ bản là kết hợp giữa vai trò của thị trường và vai trò của nhà nước, đảm bảo thống nhất giữa phát huy lợi thế so sánh và đảm bảo an ninh lương thực. Trong quá trình này, người sản xuất nông nghiệp là chủ thể điều chỉnh, thị trường là phương pháp phân bổ nguồn lực hiệu quả, nhà nước là người điều tiết đảm bảo lợi ích công bằng, hiêu quả giữa các bên. Một trong những nguyên tắc cần chú ý trong điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp gắn với an ninh lương thực là phải xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước để xây dựng mô hình hợp lý, thích hợp cho từng khu vực. Nguyên tắc trọng tâm là xác định an ninh lương thực là mấu chốt của mọi biện pháp điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp. Trong điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp gắn với an ninh lương thực phải quán triệt nguyên tắc lấy chỉ tiêu nâng cao sức cạnh tranh của nông sản và gia tăng thu nhập của nông dân với điều kiện đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (Nhung Điện Tân, 2003).

Các nội dung điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp gắn với đảm bảo an ninh lương thực hướng đến (Nhung Điện Tân, 2003) bao gồm:

Thứ nhất, giảm tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp sử dụng tài nguyên, nâng cao tỷ trọng sản phẩm sử dụng nhiều lao động.

Với dân số hiện nay khoảng hơn 1,4 tỷ người (chiếm hơn 18% dân số thế giới), là quốc gia đông dân nhất thế giới với diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người thuộc hàng thấp nhất thế giới (đất canh tác bình quân đầu người khoảng 0,1ha, bằng 45% mức trung bình của thế giới), thiếu hụt nghiêm trọng về đất đai và nguồn nước tưới tiêu. Để đảm bảo phát triển nông nghiệp bền vững, đòi hỏi phải giảm diện tích trồng cây lương thực chính đòi hỏi sử dụng nhiều tài nguyên là đất canh tác và nước tưới, tăng sản lượng và diện tích các sản phẩm sử dụng nhiều tài nguyên lao động như trái cây, hoa, rau, gia súc.

Thứ hai, nâng cao đáng kể tỷ lệ nông sản chất lượng cao. Biến đổi cơ cấu nhu cầu tiêu dùng là động lực kéo theo sự biến đổi trong cơ cấu sản xuất. Trải qua gần 40 năm cải cách mở cửa, một mặt Trung Quốc đã chấm dứt thời kỳ kinh tế thiếu hụt, mặt khác, thu nhập người dân và mức tiêu thụ đã được nâng cao rõ rệt, do đó nhu cầu lương thực thực phẩm chất lượng cao ngày một gia tăng. Thị trường thế giới là địa bàn của nông sản chất lượng cao. Trước tình hình đó, cần nhanh chóng nâng cao tỷ lệ nông sản chất lượng cao. Ngoài việc nghiên cứu và phát triển nông sản chất lượng cao, còn phải từng bước giảm thiểu, loại trừ chủng loại và nông sản chất lượng xấu. Cũng cần nhanh chóng thích ứng với yêu cầu của thị trường thế giới về nông sản chất lượng cao đảm bảo an toàn và vệ sinh. Đi đôi với nâng cao tỷ trọng nông sản chất lượng cao cần chú trọng bảo tồn, phát triển các loại thổ sản và đặc sản của các vùng, các miền, tạo nên sức cạnh tranh đặc biệt và sự độc đáo gắn với bảo tồn nguồn gen quý hiếm và truyền thống văn hóa địa phương.

Thứ ba, phát huy ưu thế tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên kỹ thuật và tài nguyên nhân lực của các vùng, từng bước hình thành vùng nông sản chuyên canh của từng địa phương, hình thành các vùng chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hóa lớn gắn với phát huy lợi thế so sánh về tài nguyên.

Thứ tư, phát triển ngành dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các ngành chế biến nông sản, từng bước cải thiện cơ cấu tỷ lệ trong cấu thành giá trị nông sản theo chuỗi nhằm gia tăng giá trị.

Các nội dung điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp gắn với đảm bảo an ninh lương thực cần chú ý đến giải quyết một số vấn đề như: thị trường quyền sử dụng đất trong tình trạng kém phát triển; thị trường lao động giữa thành thị và nông thôn còn tình trạng bị chia cắt; người nông dân còn nhiều thời gian nhàn rỗi trong năm, số lao động dôi dư ở nông thôn vẫn là một vấn đề lớn…

Ba là, an ninh lương thực quốc gia gắn liền với thương mại quốc tế.

Một trong những vấn đề quan trọng đối với Trung Quốc để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia là đánh giá và xác định mức độ phụ thuộc nguồn lương thực nhập khẩu thông qua thương mại quốc tế. Theo quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trao đổi mua bán lương thực của Trung Quốc dù với quy mô lớn hay nhỏ, đều là vấn đề nhạy cảm.

An ninh lương thực quốc gia được quyết định bởi năng lực tự cấp lương thực trong nước thông qua sản xuất nông nghiệp và bởi năng lực nhập khẩu lương thực thông qua thương mại quốc tế.

Hiệu suất và lợi thế so sánh là nguyên tắc điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp cũng là nguyên tắc định vị xu hướng thương mại lương thực của Trung Quốc. Trước cải cách mở cửa vấn đề quan trọng hàng đầu là có lương thực còn về giá thành sản xuất quá cao, chất lượng thấp, chủng loại đơn điệu chỉ là thứ yếu. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động kinh doanh trong nông nghiệp và nông hộ phải lấy hiệu suất và dựa vào lợi thế so sánh. Tham gia vào thị trường nông sản quốc tế, là thành viên của WTO việc trao đổi mua bán lương thực của Trung Quốc không chỉ nhằm cân đối lương thực mà đã tham gia một khâu trong quá trình phân công lao động quốc tế. Việc xuất khẩu nông sản hay nhập khẩu lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước phải đặt ra bài toán so sánh giữa sản xuất trong nước có lợi hơn việc tham gia thương mại quốc tế về lương thực hay không. Việc xác định các sản phẩm nông nghiệp hay lương thực có lợi thế so sánh là một vấn đề quan trọng đối với Trung Quốc trong thời gian tới. Tham gia thương mại quốc tế về lương thực giúp Trung Quốc phân bổ và sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hiệu quả. Với đặc điểm là đất chật người đông, Trung Quốc cần nhập khẩu những nông sản thuộc loại hình sử dụng nhiều tài nguyên và xuất khẩu những nông sản thuộc loại hình sử dụng nhiều lao động. Ngoài ra cần tiến hành hợp tác, hỗ trợ qua lại với các nước mà đất rộng người ít.

Nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cho dân số đông nhất thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Trung Quốc đã có những quan điểm và chính sách đã và đang được áp dụng. Nền nông nghiệp và an ninh lương thực quốc gia của Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc, như: diện tích đất canh tác nông nghiệp thuộc hàng thấp nhất thế  giới; áp lực về việc chuyển dịch lao động nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; quá trình chuyển đổi, tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo chuyển sang nền kinh tế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế… Những quan điểm và chính sách về an ninh lương thực của Trung Quốc có giá trị tham chiếu quan trọng đối với việc xây dựng chiến lược đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam hiện nay./.

Trung tá Lê Anh Thực

Khoa KHXHNV và Tâm lí, Học viện chính trị Công an nhân dân

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Vương Dật Châu (chủ biên), An ninh quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999.
  2. Cốc Nguyên Dương, Tình hình cung cấp lương thực và an ninh lương thực của Trung Quốc, Tạp chí Khoa học xã hội số 1(59) – 2003.
  3. Nhung Điện Tân, Điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp Trung Quốc và hướng đi trong tương lai, Tạp chí Khoa học xã hội số 1(59) – 2003.
  4. http://www.censere.com/index.php/en/articles/215-food-security-problem-in-china. Truy cập ngày 15/7/2017

 

 

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Xem nhiều nhất

Liên kết website