Lý luận chính trị
Thứ Sáu, 30/10/2026 14:39'(GMT+7)

HÀNH TRÌNH KHÁT VỌNG - DIỆN MẠO VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2045

 

KỲ 3: CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI 2045 - ĐÔ THỊ HIỆN ĐẠI, AN SINH BAO TRÙM

Trong tư tưởng phát triển của Chủ nghĩa xã hội Việt Nam, tăng trưởng kinh tế chưa bao giờ là mục đích cuối cùng. Kinh tế mạnh hay quy mô GDP vượt trội (như đã phân tích ở Kỳ 2) chỉ là phương tiện để đạt tới mục tiêu tối thượng: Xây dựng một xã hội văn minh, công bằng, hạnh phúc - nơi con người được phát triển toàn diện, tự do và an toàn.

Mẫu hình xã hội Việt Nam năm 2045 định hình một không gian sống hiện đại nhưng không vô cảm, đô thị hóa bứt phá nhưng giữ vững bản sắc, phát triển giàu mạnh nhưng bảo đảm một lưới an sinh bao trùm, không để bất kỳ ai bị bỏ lại phía sau.

1. Con người Việt Nam 2045 - Công dân toàn cầu mang tâm hồn Việt

Lịch sử phát triển của nhân loại chứng minh rằng, mọi kỳ tích về kinh tế, khoa học hay xã hội xét đến cùng đều xuất phát từ con người. Con người vừa là mục tiêu tối thượng, vừa là động lực quyết định nhất của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước vào thế kỷ XXI, đất nước ta đang đứng trước những vận hội lớn để vươn mình bước vào kỷ nguyên thịnh vượng, hướng tới mốc son năm 2045 - kỷ niệm tròn một thế kỷ thành lập nước. Trong tầm nhìn chiến lược ấy, câu hỏi cốt lõi được đặt ra không chỉ là một nền kinh tế sẽ đạt quy mô ra sao, mà quan trọng hơn cả: Diện mạo, bản lĩnh và trí tuệ của con người Việt Nam năm 2045 sẽ định hình như thế nào? Câu trả lời nằm trọn trong hình tượng: những công dân toàn cầu mang đậm tâm hồn Việt.

Sự nâng tầm toàn diện về thể chất và tri thức

Để gánh vác sứ mệnh đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu, trước hết con người Việt Nam 2045 phải có một nền tảng thể lực và trí tuệ vững chắc.

Về thể chất: Nhờ những thành tựu vượt bậc của hệ thống y tế dự phòng hiện đại, cùng chiến lược dinh dưỡng học đường đạt chuẩn quốc tế được đầu tư bài bản từ những thập niên trước, tầm vóc và thể lực của thế hệ người Việt Nam năm 2045 đã có sự bứt phá mạnh mẽ, tiệm cận với các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới. Thể chất các thế hệ được cải thiện không chỉ là con số sinh học, mà còn là biểu hiện của một sức sống dẻo dai, sẵn sàng thích ứng với cường độ lao động cao của thời đại số. Nghị quyết số 72-NQ/TW đã xác định tư duy “chuyển mạnh từ tập trung khám, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, chú trọng bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe toàn diện, liên tục theo vòng đời”, đặt mục tiêu đến năm 2045 tuổi thọ trung bình người dân đạt trên 80 tuổi, trong đó số năm sống khỏe mạnh tăng lên trên 71 tuổi, tầm vóc, thể lực, chiều cao trung bình của thanh niên tương đương các quốc gia có cùng mức phát triển, hướng đến “xây dựng một nước Việt Nam khỏe mạnh”.

Về tri thức và kỹ năng: Không còn gò bó trong lối học thụ động, nguồn nhân lực Việt Nam 2045 là lực lượng lao động chất lượng cao, sở hữu tư duy phản biện, óc sáng tạo không giới hạn và năng lực tự học suốt đời. Người Việt Nam đã làm chủ các công nghệ lõi như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ sinh học và tự động hóa. Quá trình này được kích hoạt mạnh mẽ bởi Nghị quyết số 71-NQ/TW với mục tiêu đưa hệ thống giáo dục quốc dân đứng vào nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới đến năm 2045, nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học trở thành các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số toàn diện và đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học và trong toàn xã hội. Con người là vốn quý nhất, do đó nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài khoa học, công nghệ trở thành động lực và lợi thế cạnh tranh cốt lõi của đất nước. Tri thức của dân tộc Việt Nam không chỉ để mưu sinh, mà là công cụ để giải quyết những bài toán toàn cầu về biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng và phát triển bền vững.

Bản lĩnh của "Công dân toàn cầu" trong thế giới mở

Thế giới năm 2045 được dự báo là một thế giới phẳng, nơi biên giới địa lý mờ dần nhường chỗ cho sự liên kết mạng lưới toàn cầu. Công dân Việt Nam khi ấy là những công dân toàn cầu thực thụ, có thể thông thạo nhiều ngôn ngữ quốc tế, di chuyển linh hoạt trong không gian số lẫn không gian thực, có tư duy mở, tôn trọng sự đa dạng văn hóa và đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật.

Định hướng giáo dục tại Nghị quyết 71-NQ/TW khẳng định rõ phương châm “giáo dục, đào tạo công dân Việt Nam trở thành công dân toàn cầu”, kết hợp giáo dục tri thức với năng lực số, trí tuệ nhân tạo và kỹ năng hội nhập quốc tế sâu rộng. Công dân Việt Nam 2045 là những nhân lực sở hữu tri thức, kỹ năng hiện đại, tư duy sáng tạo và năng lực số, được đào tạo trong một nền giáo dục đã bứt phá, đồng thời mang trong mình tâm hồn, bản lĩnh, khát vọng cống hiến và lòng tự hào dân tộc sâu sắc Người Việt Nam nhất là thế hệ trẻ không hề có cảm giác tự ti hay bị hòa tan, mà ngược lại, bước ra thế giới với một phong thái tự tin, chủ động đối thoại bình đẳng với bạn bè quốc tế, tham gia sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu và để lại dấu ấn đậm nét bằng năng lực chuyên môn cùng sự minh bạch, chuyên nghiệp.

Tâm hồn Việt Nam – “Hệ điều hành” nội sinh trong kỷ nguyên số

Hội nhập nhưng không hòa tan là bài toán sống còn của bất kỳ dân tộc nào. Sự khác biệt và sức mạnh độc đáo nhất của công dân Việt Nam 2045 chính là tâm hồn và bản sắc văn hóa dân tộc được chắt lọc qua hàng ngàn năm lịch sử. Dù đi đến đâu, tiếp thu tri thức tiên tiến thế nào, trong huyết quản của người Việt Nam vẫn chảy dòng máu yêu nước nồng nàn, tinh thần nhân ái, trọng nghĩa tình, sự gắn kết gia đình bền chặt và niềm tự hào sâu sắc về cội nguồn “con Rồng cháu Tiên”, “là người Việt Nam”.

Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh: Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Phát triển văn hóa nhằm hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam (yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo).

Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam thành động lực quan trọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”. Nguồn: hvctcand.

Trong một kỷ nguyên mà trí tuệ nhân tạo và thế giới ảo có thể làm phai mờ các giá trị thực, văn hóa truyền thống và chuẩn mực đạo đức Việt Nam chính là chiếc “la bàn” định hướng xây dựng và hình thành “đạo đức trong kỷ nguyên kỹ thuật số”, là “hệ điều hành” nội sinh bảo vệ xã hội trước những nguy cơ lệch chuẩn, thực dụng hay tha hóa nhân cách. Giá trị nhân văn truyền thống kết hợp với đạo đức thời đại tạo nên một thứ “sức mạnh mềm” vô song, giúp con người giữ được sự bình an, tử tế và cốt cách thanh cao giữa dòng chảy cuộn trào của công nghệ.

Khát vọng Việt Nam 2045 không chỉ là những con số tăng trưởng GDP hay những thành tựu về hạ tầng, mà cốt lõi nhất phải là sự trưởng thành vượt bậc của con người. Con người Việt Nam năm 2045 - những công dân mang trên mình tri thức toàn cầu nhưng trái tim đập nhịp đập quê hương - chính là hiện thân cho sự kết tinh rực rỡ giữa truyền thống và hiện đại. Chính họ sẽ là chủ thể viết tiếp những trang sử hào hùng cho dân tộc, đưa Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, trở thành một quốc gia phồn vinh, hạnh phúc và trường tồn trong kỷ nguyên mới.

2. Hệ thống an sinh bao trùm – “Tấm lá chắn” vững chắc cho mọi người dân

Điểm khác biệt căn bản, cốt lõi và ưu việt nhất giữa mô hình xã hội định hướng xã hội chủ nghĩa với các mô hình phúc lợi tư bản truyền thống chính là tính bao trùm toàn dân và sự công bằng triệt để trong thụ hưởng thành quả phát triển. Trong tư duy quản trị quốc gia hiện đại, an sinh xã hội không bao giờ là hành vi "ban ơn", "từ thiện" hay "trợ cấp lòng tốt" mang tính tạm thời, mà là quyền con người cơ bản đã được hiến định, luật hóa và được Nhà nước bảo đảm thực thi bằng hệ thống pháp luật chặt chẽ. Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển cùng Chương trình hành động 32-Ctr/TW của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết đã xác định mục tiêu phát triển hệ thống an sinh xã hội hiện đại, bao trùm, linh hoạt, bảo đảm công bằng xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Bảo hiểm xã hội & y tế toàn dân - Lưới an sinh đa tầng dựa trên dữ liệu số:

Đến năm 2045, lưới an sinh quốc gia được kiến tạo dựa trên nền tảng dữ liệu lớn (Big Data) và định danh số quốc gia (VNeID), vươn tới bao phủ 100% cư dân.   Theo định hướng tại Nghị quyết 72-NQ/TW, từ năm 2026, người dân đã được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất 1 lần/năm, được hoàn thành việc tạo lập Sổ sức khỏe điện tử để quản lý sức khỏe theo vòng đời; đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân và thực hiện miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi BHYT theo lộ trình.  

 

Cùng với Nghị quyết 57-NQ/TW và Chương trình hành động 32-CTr/TW, việc ứng dụng dữ liệu lớn, vận hành Bản đồ số an sinh xã hội và kết nối liên thông Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư giúp mọi quy trình từ thăm khám y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe định kỳ cho đến chi trả lương hưu, trợ cấp xã hội đều được tự động hóa, minh bạch hóa và kết nối liền mạch.

Bình đẳng tuyệt đối trong tiếp cận dịch vụ công cơ bản: Khoảng cách vùng miền và điều kiện kinh tế hoàn toàn bị xóa nhòa trong lĩnh vực giáo dục và phát triển con người. Mọi trẻ em Việt Nam - từ những em sinh ra giữa lòng các đô thị trung tâm sầm uất cho đến những mảnh đất biên giới, hải đảo xa xôi - đều được thụ hưởng một nền giáo dục chất lượng cao ngang nhau.

Thành quả này có được nhờ tinh thần đột phá của Nghị quyết 71-NQ/TW: Bảo đảm hạ tầng giáo dục số quốc gia đồng bộ, phổ cập tri thức trực tuyến; thực hiện chính sách miễn phí sách giáo khoa, hoàn thành mạng lưới trường phổ thông nội trú vùng đồng bào dân tộc thiểu số và có các gói chính sách ưu đãi đặc thù (phụ cấp ưu đãi nghề 100% cho giáo viên, y tế ở vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo).

Thu hẹp khoảng cách phân hóa và xóa bỏ nghèo đa chiều bền vững: Đến năm 2045, Việt Nam xây dựng thành công xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển. Mọi công dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và được thụ hưởng công bằng mọi thành quả phát triển. Chất lượng sống, chỉ số hạnh phúc, chỉ số phát triển con người thuộc nhóm các quốc gia tiên tiến trên thế giới.

Sự phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội được kiểm soát, điều tiết hiệu quả thông qua các công cụ tài chính công tinh vi như hệ thống thuế thông minh, lũy tiến và công bằng trên cơ sở kế thừa, được tạo đà từ năm 2030 Việt Nam đạt chỉ tiêu chỉ số chênh lệnh thu nhập (GINI) xuống dưới mức 0,38 và nâng chỉ số phát triển con người (HDI) lên khoảng 0,8. Bên cạnh đó, Nhà nước không chỉ hỗ trợ vật chất thụ động mà tập trung trao “cần câu” - tức là cơ hội phát triển kinh tế, tiếp cận vốn, tri thức và việc làm chất lượng cao - cho các nhóm yếu thế. Nhờ vậy, xã hội Việt Nam năm 2045 đã xóa bỏ hoàn toàn tình trạng nghèo đa chiều bền vững, kiến tạo một cộng đồng thịnh vượng nơi mọi người dân đều là chủ thể tích cực của sự phát triển.

3. Không gian sống 2045 - Đô thị thông minh và nông thôn sinh thái

Đến năm 2045, diện mạo không gian sống của người dân Việt Nam đạt đến sự hài hòa đỉnh cao giữa tốc độ đô thị hóa bứt phá và sứ mệnh bảo tồn, phát triển cảnh quan sinh thái bền vững. Không gian sinh hoạt và phát triển kinh tế không còn bị chia cắt hay đối lập, mà hòa quyện trở thành một môi trường sống văn minh, an toàn và giàu bản sắc.

Đô thị thông minh, xanh và thích ứng: Tỉ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á với tỷ lệ đô thị hóa vượt mốc 60-65%, các cực tăng trưởng chủ lực như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng đã phát triển trở thành những đại đô thị thông minh hàng đầu khu vực. Hệ thống đô thị liên kết thành mạng lưới đồng bộ, thống nhất, cân đối giữa các vùng, miền, có khả năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ môi trường.

Hiện thực hóa Nghị quyết 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (khóa XIII) và Nghị quyết 57-NQ/TW, toàn bộ hạ tầng đô thị - từ quản lý năng lượng, xử lý rác thải, thoát nước, đến điều phối giao thông - đều được vận hành tối ưu trên nền tảng Trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn vật kết nối (IoT) và bản đồ số theo thời gian thực. Mạng lưới giao thông công cộng khối lượng lớn (TOD), đường sắt đô thị hiện đại và phương tiện giao thông điện thông minh đã thay thế hoàn toàn các phương tiện cơ giới phát thải khí nhà kính.  

 

 

Hà Nội quy hoạch chung đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 “Văn hiến – Văn Minh – Hiện đại”. Nguồn: Tạp chí Xây dựng.

Đô thị năm 2045 không còn là những “bê tông hóa” ngột ngạt mà trở thành những không gian sống xanh, sạch, ngầm hóa hạ tầng kỹ thuật, mở rộng diện tích công viên, mặt nước và sở hữu năng lực tự chống chịu trước biến đổi khí hậu. Đặc biệt, chương trình Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia và Quỹ nhà ở quốc gia được triển khai thành công, đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá phù hợp cho công nhân, người thu nhập thấp, xóa bỏ hoàn toàn nhà tạm, khu lụp xụp đô thị. Thủ đô Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thực sự trở thành những đô thị văn minh toàn cầu, các trung tâm tài chính, đổi mới sáng tạo và du lịch tầm vóc quốc tế.

Nông thôn mới hiện đại và đáng sống:

Nông thôn Việt Nam năm 2045 không còn bị "bỏ rơi" hay chịu cảnh chảy máu lực lượng lao động do làn sóng di cư về đô thị. Ngược lại, quán triệt sâu sắc Kết luận số 219-KL/TW (tiếp tục thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW khóa XIII), nông nghiệp, nông dân, nông thôn giữ vị trí chiến lược lâu dài, trong đó nông dân là trung tâm, là chủ thể và động lực.

Nền sản xuất nông nghiệp nhờ chuyển đổi mạnh mẽ sang nền nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải thấp, ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số toàn diện, khu vực nông thôn đã thực sự “lột xác” trở thành những "miền quê đáng sống". Nông nghiệp sinh thái, sản xuất hàng hoá quy mô lớn, có giá trị gia tăng cao, gắn kết chặt chẽ với thị trường trong và ngoài nước, công nghiệp chế biến và bảo quản nông sản hiện đại, xuất khẩu nhiều loại nông sản đứng hàng đầu thế giới. Mô hình tổ chức sản xuất chuyên nghiệp gắn kết chặt chẽ “6 nhà” (nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà đầu tư, ngân hàng, nhà phân phối), hình thành các hệ sinh thái kinh tế nông nghiệp đa giá trị (chế biến, dịch vụ, du lịch sinh thái, kinh tế carbon thấp).

Nông dân và cư dân nông thôn văn minh, phát triển toàn diện, có thu nhập cao. Quy hoạch không gian đô thị và nông thôn được kết nối hài hòa, bổ trợ lẫn nhau theo mô hình “làng trong phố, phố trong làng”. Nông thôn hiện đại có mạng lưới hạ tầng số, các dịch vụ y tế và giáo dục chất lượng cao ở nông thôn có điều kiện sống tiệm cận với đô thị, môi trường sống xanh, sạch, đẹp, vừa mở rộng dư địa phát triển vừa giữ gìn trọn vẹn bản sắc văn hóa dân tộc; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm vững chắc. Người nông dân không chỉ làm sử dụng tư liệu sản xuất là đất đai để kiếm sống mà đã vươn lên trở thành những thương gia nông nghiệp tri thức, giàu có, làm chủ công nghệ hiện đại và tự tin làm giàu bền vững ngay trên chính quê hương mình.

Nền tảng cho một xã hội hạnh phúc:

Một xã hội an toàn, công bằng với hệ thống an sinh bao trùm và môi trường sống xanh - văn minh chính là thước đo giá trị chân thực nhất cho tính ưu việt của mô hình Chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Chương trình hành động 32-CTr/TW đã cụ thể hóa khát vọng này bằng việc xây dựng bộ chỉ số đánh giá “Chất lượng sống”, “Hạnh phúc xã hội” và “Niềm tin xã hội”, đưa Việt Nam trở thành quốc gia kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa và phát triển.

Khi Nhà nước kiến tạo nên một môi trường sống an lành, công bằng và văn minh, mỗi cá nhân sẽ có được không gian tự do tối đa để sáng tạo, cống hiến và hiện thực hóa ước mơ của mình. Ngược lại, sự trưởng thành, tài trí và lòng yêu nước của từng công dân lại trở thành nguồn năng lượng nội sinh vô tận để đưa cả dân tộc bước vào kỷ nguyên vươn mình thịnh vượng vào năm 2045. Đó không chỉ là thành quả của quá trình hiện đại hóa, mà còn là nơi khát vọng phát triển của mỗi cá nhân hòa quyện làm một với khát vọng vươn mình thịnh vượng của toàn dân tộc.

Hành trình hướng tới mốc son năm 2045 là cuộc vươn mình lịch sử của dân tộc Việt Nam. Phía sau những con số tăng trưởng kinh tế ấn tượng là hình ảnh một xã hội Việt Nam phát triển đỉnh cao về nhân văn và chất lượng sống: Nơi mỗi con người là một công dân toàn cầu mang trí tuệ hiện đại, hội nhập nhưng tràn đầy tình yêu quê hương, bản sắc dân tộc; nơi mọi rủi ro cuộc sống đều có hệ thống an sinh bao trùm che chở; và nơi mỗi không gian sống - từ đại đô thị thông minh đến vùng nông thôn sinh thái - đều phát triển nhanh, bền vững gắn với sự an toàn và niềm hạnh phúc của toàn dân.

Những thành tựu Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam đạt được trong cột mốc năm 2045 chính là cơ sở, tiền đề vững chắc cho tầm nhìn đến năm 2130 Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hóa giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện.

Tuy nhiên, để duy trì và vận hành một xã hội hiện đại, bảo đảm hệ thống an sinh vững chắc cũng như nâng tầm không gian sống bền vững như vậy, yếu tố quyết định cốt lõi chính là sự đổi mới mang tính đột phá về thể chế, năng lực quản trị quốc gia và tinh thần phụng sự của bộ máy nhà nước trong kỷ nguyên mới.

Nguyễn Đình Thiện

Nguyễn Thị Ngọc Lan

 

Kỳ 4: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và quản trị quốc gia hiện đại.


 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIV, tập 1.
  2. Ban Chấp hành Trung ương (2022), Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
  3. Ban Chấp hành Trung ương (2026), Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.
  4. Ban Chấp hành Trung ương (2026), Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
  5. Bộ Chính trị (2022), Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vừng đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
  6. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
  7. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
  8. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
  9. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
  10. Bộ Chính trị (2026), Chương trình hành động số 32-CTr/TW ngày 28/7/2026 thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.
Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất