Nghiên cứu Quốc tế
Thứ Sáu, 19/6/2026 19:29'(GMT+7)

Kỳ cuối: Sau ánh đèn sân khấu – Cục diện an ninh Châu Á sẽ về đâu?

Khi các phái đoàn rời khách sạn Shangri-La, truyền thông ngừng đưa tin rầm rộ và bầu không khí yên bình trở lại với Quốc đảo Sư tử, thế giới mới bắt đầu đặt ra câu hỏi thực sự quan trọng. Bởi những gì diễn ra trong ba ngày tại khách sạn bên đường Orchard không kết thúc khi cánh cửa phòng họp cuối cùng khép lại. Những cam kết được đưa ra trong phòng kín, những ranh giới đỏ được vạch rõ sau hậu trường, những rạn nứt bị phơi bày trước ống kính truyền thông toàn cầu, tất cả đều tiếp tục sống một cuộc đời riêng, âm thầm ngấm vào các chỉ thị chính sách, vào lịch điều động lực lượng, vào những tính toán chiến lược được thực hiện.

Các quan chức quốc phòng cấp cao thuộc Thỏa thuận Phòng thủ Ngũ cường gặp mặt bên lề Đối thoại Shangri-La 2026, ngày 31-5. Ảnh: MINDEF

Câu hỏi không phải là chuyện gì đã xảy ra tại Shangri-La 2026, mà là những gì diễn ra tại đó sẽ thay đổi cục diện thực địa ra sao và theo hướng nào? Chúng ta đang tiến gần hơn đến một cơ chế kiểm soát khủng hoảng hiệu quả, hay đang trượt dài vào một cuộc “Chiến tranh Lạnh mới” tại châu Á? lần này không có Bức màn Sắt mà chỉ có những vùng xám ngày càng nguy hiểm và khó đoán. Câu trả lời vẫn còn bỏ ngỏ. Ba kỳ trước đã bóc tách bản chất của diễn đàn (Kỳ 1), giải mã các điểm nóng nghị sự (Kỳ 2) và phân tích nghệ thuật ngoại giao hậu trường (Kỳ 3). Kỳ cuối sẽ nhìn xa hơn ánh đèn sân khấu, luận giải về những xu hướng chiến lược đang định hình cục diện an ninh châu Á trong trung và dài hạn, đồng thời đánh giá vị thế và con đường mà Việt Nam đang kiên định theo đuổi trước những biến động địa chính trị chưa từng có tiền lệ.

1. Giải mã Thông điệp ngầm và xu hướng chiến lược hậu Shangri-La 2026

Đối thoại Shangri-La không phải là điểm cuối của một chu kỳ địa chính trị, đó là nơi khởi động các chuyển dịch chiến lược tiếp theo. Hiểu được tương lai không chỉ qua những gì các bên tuyên bố công khai, mà còn phải giải mã sự thay đổi tinh tế trong ngôn từ chiến lược, trong thứ tự ưu tiên của nghị sự và trong cấu trúc của những cuộc gặp bên lề. Tại Shangri-La 2026, ba xu hướng lớn đã hiện lên rõ nét như những chỉ báo chiến lược về hướng đi của cục diện an ninh khu vực trong giai đoạn kế tiếp.

Mỹ và các đồng minh - Xu hướng Răn đe tích hợp

Tại Shangri-La 2026, Mỹ không chỉ tái khẳng định cam kết an ninh với các đồng minh mà còn phát đi một thông điệp định tính quan trọng: xu hướng Răn đe tích hợp”, vốn được Bộ Quốc phòng Mỹ chính thức hóa từ Chiến lược Quốc phòng Quốc gia 2022, đang chuyển từ khuôn khổ lý thuyết sang giai đoạn hiện thực hóa có hệ thống trên thực địa. Trọng tâm của học thuyết này là kết hợp năng lực quân sự thông thường, vũ khí hạt nhân, không gian mạng, vũ trụ và kinh tế thành một thể thống nhất có khả năng phản ứng đa chiều, vượt ra ngoài mô hình răn đe tuyến tính truyền thống.

Hệ quả thực địa là tần suất và quy mô của các cuộc tập trận chung, tuần tra bảo vệ tự do hàng hải và các hoạt động chia sẻ tình báo sẽ tiếp tục gia tăng tại Biển Đông và biển Hoa Đông. Xu hướng Răn đe tích hợp về thực chất là đang thiết lập một ngưỡng chi phí rất cao đối với bất kỳ hành vi cưỡng ép đơn phương nào của đối thủ, đặc biệt là trong các kịch bản liên quan đến Eo biển Đài Loan. Các thỏa thuận được chốt lại trong hành lang kín của Shangri-La 2026 như việc thể chế hóa hơn nữa chia sẻ dữ liệu radar hàng hải giữa trục Mỹ - Nhật - Philippines là những mắt xích cụ thể trong sợi dây răn đe tích hợp này.

Trung Quốc - Chiến lược Phòng thủ chủ độngtìm cách phá thế bao vây

Động thái đáng chú ý nhất của Trung Quốc tại Shangri-La 2026 không nằm ở những lời phát biểu được đưa ra, mà nằm ở những lựa chọn chiến lược ngầm ẩn phía sau. Bắc Kinh tiếp tục xu hướng đã quan sát thấy từ các kỳ trước: chủ động hạ cấp hoặc tính toán kỹ mức độ tham gia tại các diễn đàn đa phương do các tổ chức phương Tây vận hành, đồng thời đẩy mạnh Diễn đàn Hương Sơn, một cơ chế an ninh do Bắc Kinh kiểm soát luật chơi. Tầm nhìn chiến lược đằng sau lựa chọn này là: thay vì tiếp tục chấp nhận đàm luận trong một khung khổ mà phương Tây thiết kế các quy tắc tham gia, Trung Quốc đang từng bước xây dựng một kiến trúc ngoại giao an ninh riêng biệt, nơi Bắc Kinh mới là người định nghĩa trật tựluật chơi.

Phản ứng của Bắc Kinh hậu Shangri-La sẽ tiếp tục hiện thực hóa Sáng kiến An ninh Toàn cầu thông qua việc thắt chặt các quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với các nước thuộc Phương Nam toàn cầu, tăng cường năng lực kiểm soát thực địa trên Biển Đông và tiếp tục khai thác đòn bẩy địa kinh tế từ Sáng kiến Vành đai và Con đường. Chiến lược này phản ánh một tư duy địa chính trị nhất quán: nếu không thể phá vỡ ngay tức khắc vòng vây liên minh của Washington, Bắc Kinh sẽ chủ động mở rộng không gian chiến lược từ phía Nam toàn cầu, từ từng bước cô lập cấu trúc liên minh phương Tây khỏi bộ phận đông đảo nhất của cộng đồng quốc tế.

Kịch bản phân cực: Hòa bình treo hay “Xung đột có kiểm soát”?

Các tín hiệu từ Shangri-La 2026 đưa đến một kết luận mang tính cấu trúc: châu Á - Thái Bình Dương khó có khả năng rơi vào một cuộc chiến tranh toàn diện giữa các cường quốc trong ngắn hạn, nhưng sẽ duy trì bền vững một trạng thái mà giới học giả gọi là Hòa bình lạnh - nơi các cơ chế van xả áp như Shangri-La vẫn hoạt động đủ để ngăn ngừa thảm họa chiến tranh, nhưng lại không đủ mạnh để giải quyết các mâu thuẫn hệ thống ngầm bên dưới.

Rủi ro thực sự không đến từ một quyết định chiến tranh có chủ ý của bất kỳ bên nào, mà đến từ những tính toán sai lầm trên thực địa, khi một sự cố va chạm kỹ thuật giữa tàu chiến hay máy bay chiến đấu leo thang vượt khỏi tầm kiểm soát của các cơ chế quản lý khủng hoảng đang tồn tại. Đây chính là lý do cốt lõi giải thích tại sao các đường dây nóng Mil-to-Mil được thiết lập trong hành lang kín của Shangri-La lại quan trọng đến vậy, chúng không phải công cụ kiến tạo hòa bình, mà là hệ thống phanh khẩn cấp ngăn chiến tranh ngẫu nhiên.

2. Thách thức chèo lái của ASEAN: Tính trung tâm đứng trước thử thách lịch sử

Trong bối cảnh các siêu cường leo thang cạnh tranh với tốc độ và cường độ ngày càng tăng, Tính trung tâm ASEAN vốn là nền tảng kiến trúc của trật tự đa phương khu vực đang phải đối mặt với thử thách nghiêm trọng nhất kể từ khi khối được thành lập năm 1967. Không phải vì ASEAN thiếu ý chí chính trị, mà vì địa hình địa chính trị đang thay đổi đến mức khiến các nguyên tắc vận hành truyền thống của khối này gặp khó khăn chưa từng thấy.

Áp lực phân rã từ bên ngoài và rủi ro rạn nứt nội khối

Thách thức cốt lõi mà ASEAN phải đối mặt hậu Shangri-La 2026 là các siêu cường ngày càng tinh vi hơn trong việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế và an ninh để tiếp cận từng thành viên ASEAN trên cơ sở song phương, làm xói mòn dần tính đồng thuận nội khối. Khi các cam kết kinh tế từ Sáng kiến Vành đai và Con đường tạo ra mức độ phụ thuộc tài chính khác nhau ở các quốc gia thành viên, hay khi các gói hỗ trợ an ninh từ phía Washington đi kèm với các điều kiện ngầm về lập trường chính trị, áp lực chọn bên dần hiện lên không phải dưới dạng một tối hậu thư trực tiếp, mà dưới hình thức những ưu đãi và chi phí kinh tế được tính toán. Đây là mối đe dọa thực sự nhất đối với sự đoàn kết ASEAN trong trung hạn.

Lối thoát từ tự chủ chiến lược

Để vượt qua cái bẫy chọn bên, ASEAN không còn có thể dựa duy nhất vào nguyên tắc trung lập, mà phải chủ động định hình lại Tính trung tâm bằng các hành động thực chất và đo lường được. Trước hết, đây là việc đẩy nhanh tiến trình đàm phán và hoàn thiện Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trên cơ sở thực chất, hiệu lực và hoàn toàn phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển - UNCLOS 1982. Một COC có tính ràng buộc pháp lý thực sự sẽ là thành tựu của ngoại giao đa phương ASEAN và là bức tường pháp lý mạnh nhất chống lại các hành vi cưỡng ép đơn phương.

Song song với đó, tăng cường hợp tác nội khối về an ninh phi truyền thống bao gồm an ninh mạng, ứng phó thảm họa thiên nhiên và hàng hải, quản lý biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh lương thực là con đường giảm dần sự phụ thuộc vào các cường quốc bên ngoài trong các vấn đề an ninh cốt lõi. Tính tự chủ chiến lược thực sự của ASEAN không chỉ được đo bằng lập trường tại các diễn đàn đa phương, mà được đo bằng năng lực nội sinh giải quyết các vấn đề của chính khu vực. Đây là bài học quan trọng mà các kỳ Đối thoại Shangri-La liên tiếp khắc sâu thêm.

3. Vị thế và thượng tôn luật pháp quốc tế - Góc nhìn từ Việt Nam

Ngoại giao quốc phòng đa phương là lá chắn bảo vệ lợi ích quốc gia từ sớm, từ xa. Tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 (2026), sự kiện Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đảm nhiệm vai trò diễn giả chính tại phiên toàn thể không đơn thuần là một nghi thức ngoại giao. Đây là sự công nhận có tính hệ thống của cộng đồng quốc tế dành cho vị thế, uy tín và tiếng nói độc lập của Việt Nam trong cấu trúc an ninh khu vực. Một quốc gia được chọn đứng trên bục phát biểu của hội nghị an ninh hàng đầu châu Á trước sự hiện diện của hơn 40 phái đoàn từ khắp thế giới phải là quốc gia được nhìn nhận như một tác nhân định hình trật tự, không phải là đối tượng thụ động chịu sự sắp đặt của nước lớn.

Thông điệp nhất quán của Việt Nam tại diễn đàn

Điều làm nên sức mạnh ngoại giao của Việt Nam tại các kỳ Shangri-La không phải là quy mô ngân sách quốc phòng hay sức mạnh quân sự thuần túy, mà là tính nhất quán và độ tin cậy chiến lược được xây dựng qua nhiều thập kỷ. Chính sách 4 không trong quốc phòng được Việt Nam kiên trì khẳng định tại mọi cuộc gặp, từ hội trường lớn đến phòng họp kín bên lề, từ đối thoại với Washington đến đối thoại với Bắc Kinh đã trở thành một tài sản ngoại giao đặc thù. Trong bối cảnh tất cả các bên đang tìm cách lôi kéo, tính miễn nhiễm với áp lực chọn bên của Việt Nam không chỉ bảo vệ quyền tự chủ chiến lược của quốc gia, mà còn tạo ra không gian cho Việt Nam đóng vai trò cầu nối, trung gian tin cậy mà cả các siêu cường đều cần.

Việc kiên trì viện dẫn UNCLOS 1982 và luật pháp quốc tế như mỏ neo pháp lý tối thượng trong mọi vấn đề liên quan đến tranh chấp biển đảo không phải là lập trường phòng thủ bị động, đó là chiến lược ngoại giao chủ động. Bằng cách luôn đặt luật pháp quốc tế lên trên sức mạnh, Việt Nam không chỉ bảo vệ lợi ích trực tiếp của mình trên Biển Đông mà còn đặt ra những tiêu chuẩn hành vi mà cộng đồng quốc tế rộng lớn hơn có thể đồng thuận ủng hộ. Đây là cách một quốc gia tầm trung tạo ra đòn bẩy bất cân xứng trong quan hệ với các siêu cường.

Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn Shangri-La:

Nhìn lại chuỗi các kỳ Đối thoại Shangri-La, từ thực tiễn đã được tổng kết qua Kỳ 1, 2 và 3, Việt Nam đang thể hiện rõ nét một mô hình ngoại giao quốc phòng đặc thù: đa phương hóa các mối quan hệ an ninh mà không bị ràng buộc vào bất kỳ trục đồng minh nào, nâng cao năng lực nội sinh đồng thời mở rộng hợp tác quốc phòng có chọn lọc với các đối tác chia sẻ các nguyên tắc cơ bản. Chiến lược này không phải là trung lập thụ động mà là chủ động không liên kết”, một khái niệm phân biệt rõ ràng giữa việc giữ tự chủ chiến lược và việc đứng ngoài lề các vấn đề quốc tế.

Hậu Shangri-La 2026, định hướng chiến lược của Việt Nam cần tiếp tục được củng cố trên ba trục: (1) duy trì và nâng cao hiệu quả của ngoại giao quốc phòng đa phương, đặc biệt là thông qua các cơ chế như Shangri-La, ADMM+ và các diễn đàn hàng hải khu vực; (2) đẩy mạnh xây dựng năng lực an ninh phi truyền thống, từ an ninh mạng đến ứng phó các mối đe dọa lai ghép như một lĩnh vực hợp tác mà Việt Nam có thể tạo ra giá trị thực sự cho các đối tác; và (3) tiếp tục là tiếng nói đáng tin cậy thúc đẩy thượng tôn luật pháp quốc tế và COC thực chất tại mọi diễn đàn khu vực và toàn cầu.

Thay cho lời kết

Bốn kỳ phân tích về Đối thoại Shangri-La đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về một diễn đàn có vai trò vượt xa giá trị của các hội nghị thông thường. Shangri-La là lăng kính phản chiếu trung thực nhất những rạn nứt và sức căng ngầm của địa chính trị hiện đại. Đồng thời, với chức năng van xả ápđường dây nóngngăn ngừa tính toán sai lầm dẫn đến thảm họa chiến tranh, diễn đàn này còn đóng vai trò như một chiếc la bàn dẫn đường trong màn đêm địa chính trị u ám. Cục diện an ninh châu Á sau Shangri-La 2026 sẽ không đơn giản hơn. Các điểm nóng tại Biển Đông và Eo biển Đài Loan (như đã phân tích ở Kỳ 2) sẽ tiếp tục sôi sục. Mạng lưới liên minh tiểu đa phương do Mỹ dẫn dắt sẽ tiếp tục được thắt chặt, trong khi Trung Quốc tiếp tục mở rộng không gian chiến lược từ Phương Nam toàn cầu. Ngoại giao hành lang (như đã phân tích ở Kỳ 3) sẽ vẫn là nơi những thỏa thuận thực chất nhất được định hình nhưng khả năng các cơ chế đó giữ được sự ổn định phụ thuộc vào ý chí chính trị của các bên, đặc biệt là khả năng kiềm chế trước các áp lực nội bộ luôn thúc đẩy leo thang.

Trong bức tranh đó, con đường của Việt Nam và ASEAN không phải là con đường dễ dàng, nhưng là con đường đúng đắn: kiên định độc lập tự chủ, thượng tôn pháp luật quốc tế, chủ động kiến tạo thay vì thụ động chờ đợi, và xây dựng uy tín chiến lược như một tài sản tích lũy qua từng cuộc đối thoại, từng cái bắt tay bên hành lang, từng lời phát biểu dứt khoát tại hội trường lớn. Bởi lẽ, trong một thế giới mà trật tự đang được viết lại, những quốc gia kiên trì và nhất quán nhất mới là những quốc gia có tiếng nói được lắng nghe lâu dài nhất. Đối thoại Shangri-La suy cho cùng không tự tạo ra hòa bình, nhưng nó chỉ ra con đường để đạt được hòa bình đó: đối thoại thay vì đối đầu, pháp luật thay vì sức mạnh, và quản lý rủi ro thay vì ảo tưởng về chiến thắng tuyệt đối. Chừng nào Shangri-La còn đóng vai trò là chiếc phanh an toàn thầm lặng mà thế giới đang rất cần như đã nhận định ngay từ Kỳ 1 của loạt bài này, chừng đó nhân loại vẫn còn một cơ hội để chèo lái con thuyền địa chính trị qua những vùng nước nguy hiểm nhất của thế kỷ XXI.

Nguyễn Đình Thiện

Nguyễn Thị Hoài Thu

Phạm Thị Bích Ngọc

 

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất