Bốn kỳ trước của chùm bài đã lần lượt dựng nên bốn mảnh ghép của một Việt Nam năm 2045. Kỳ cuối của chùm bài là mảnh ghép hoàn thiện bức tranh ấy, đồng thời nhìn lại toàn bộ hành trình để trả lời câu hỏi đã đặt ra: Một Việt Nam phát triển, định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045 sẽ mang hình hài như thế nào?

Cây tre Việt Nam có gốc vững, thân chắc và cành uyển chuyển, được lấy làm biểu tượng, bản sắc ngoại giao Việt Nam. Gốc vững chính là thực lực của ta. Thân vững chính là lợi ích quốc gia dân tộc. Cành lá uyển chuyển là cách thức ứng xử trong ngoại giao. Ảnh: VOV
Hành trình 100 năm dựng nước và giữ nước (1945-2045) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chỉ là thiên bản hùng ca về sự tự lực tự cường nội tại, mà còn là câu chuyện vươn tầm kỳ diệu trên trường quốc tế. Năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời mà chưa được bất kỳ quốc gia nào công nhận, và tới hơn 40 năm sau, đất nước vẫn còn trong vòng bao vây, cấm vận. Đến nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với gần như toàn bộ các quốc gia thành viên Liên Hợp quốc, có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với mười bốn nước, trong đó có tất cả năm nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an. Bước vào giữa thế kỷ XXI, trong một cục diện toàn cầu đa cực, đa trung tâm đầy biến động, Việt Nam phải khẳng định tầm vóc của một quốc gia phát triển, thu nhập cao: không chỉ tự chủ về vị thế mà còn chủ động đóng góp vào hòa bình và sự tiến bộ chung của nhân loại.
1. Bản lĩnh ngoại giao “Cây tre Việt Nam” trong cục diện thế giới mới
Đến năm 2045, cục diện địa chính trị toàn cầu sẽ còn chứng kiến những chuyển dịch sâu sắc hơn những gì chúng ta chứng kiến hôm nay: cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn chuyển từ thương mại, công nghệ sang toàn bộ chuỗi cung ứng và không gian số; các thiết chế đa phương hình thành sau năm 1945 chịu sức ép cải tổ; những thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh mạng, an ninh năng lượng và lương thực trở thành mối đe dọa thường trực đối với mọi quốc gia. Trong bối cảnh đó, một nước ở vị trí địa chiến lược như Việt Nam, với bờ biển dài hơn ba nghìn kilômét án ngữ tuyến hàng hải huyết mạch của thế giới, không có lựa chọn đứng ngoài. Trong bối cảnh đó, đường lối đối ngoại mang bản sắc “Cây tre Việt Nam” tiếp tục khẳng định giá trị trường tồn: Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển. Hình tượng là cách diễn đạt dễ nhớ nhất của một triết lý đối ngoại đã được kiểm nghiệm qua những thời khắc khó khăn nhất của lịch sử hiện đại, từ Hiệp định Genève, Hiệp định Paris, đến quá trình phá thế bao vây cấm vận và bình thường hóa quan hệ với các cựu thù.
Kiên định độc lập, tự chủ
“Gốc vững” của ngoại giao Việt Nam chính là lợi ích quốc gia - dân tộc, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Đến năm 2045, với tiềm lực kinh tế, quốc phòng và vị thế mới, Việt Nam có nhiều dư địa hơn để thể hiện sự kiên định ấy, nhưng nguyên tắc không thay đổi. Chính sách quốc phòng “bốn không” được Sách trắng Quốc phòng năm 2019 công bố, không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế[1], tiếp tục là xương sống của bản lĩnh đối ngoại Việt Nam. Trong một thế giới mà nhiều nước vừa và nhỏ bị cuốn vào sức ép “chọn bên”, việc một quốc gia hơn 100 triệu dân với nền kinh tế dự kiến thuộc nhóm hai mươi lớn nhất thế giới vẫn giữ được sự độc lập trong quyết sách chính là một thông điệp có sức nặng về mô hình quan hệ quốc tế dựa trên tôn trọng và bình đẳng.
Kiên định độc lập, tự chủ đến năm 2045 còn mang một hàm nghĩa mới: tự chủ chiến lược về kinh tế và công nghệ. Kỳ 2 đã phân tích việc Nghị quyết 10-NQ/TW gắn phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với năng lực tự chủ của đất nước và Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu làm chủ các công nghệ chiến lược. Một quốc gia không làm chủ được chip, dữ liệu và năng lượng của mình sẽ khó giữ được “gốc vững” trong các cuộc cạnh tranh địa kinh tế. Độc lập về chính trị và tự chủ về kinh tế, công nghệ vì thế là hai mặt của cùng một bản lĩnh.
Linh hoạt và đan xen lợi ích
“Cành uyển chuyển” giúp Việt Nam chủ động đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Mạng lưới mười bốn đối tác chiến lược toàn diện hiện nay, bao gồm Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, Pháp, Anh và các nước láng giềng Đông Nam Á[2], là nền tảng để đến năm 2045, Việt Nam có quan hệ tin cậy với tất cả các nước lớn và trung tâm kinh tế - chính trị hàng đầu thế giới. Điều đáng chú ý không chỉ là số lượng mà là cấu trúc: Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia duy trì được đồng thời quan hệ đối tác ở cấp cao nhất với các cường quốc đang cạnh tranh gay gắt với nhau. Đó là kết quả của phương châm “đan xen lợi ích”: làm cho mỗi đối tác đều có lợi ích thực chất trong sự ổn định và phát triển của Việt Nam, để sự an toàn của đất nước được bảo đảm không chỉ bằng sức mạnh của mình mà còn bằng mạng lưới lợi ích chằng chịt của các bên.
Nền tảng vật chất của sự đan xen ấy là kinh tế. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt hơn 930 tỷ USD, gần gấp đôi quy mô GDP[3]; với 18 hiệp định thương mại tự do đã ký kết, Việt Nam là một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới. Đến năm 2045, khi đường sắt tốc độ cao, các cảng trung chuyển quốc tế và trung tâm tài chính quốc tế đi vào vận hành, Việt Nam trở thành một “mắt xích kết nối” khó thay thế trong các chuỗi cung ứng và cấu trúc hợp tác của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Vị thế ấy vừa là thành quả, vừa là bảo đảm cho an ninh: một mắt xích không thể thiếu thì ít có nguy cơ bị gạt ra ngoài.
Trong mạng lưới ấy, ASEAN giữ vị trí đặc biệt. Ba mươi năm sau ngày gia nhập (1995-2025), Việt Nam đã từ một thành viên mới trở thành một trong những nước có vai trò dẫn dắt trong Hiệp hội, thể hiện qua các nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN thành công, nhất là năm 2020 giữa đại dịch. Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045 được thông qua năm 2025 trùng khít với mốc 100 năm của Việt Nam, và không phải ngẫu nhiên: một ASEAN đoàn kết, tự cường, giữ vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực là điều kiện bên ngoài quan trọng nhất cho an ninh và phát triển của Việt Nam. Đến năm 2045, với tư cách một trong những nền kinh tế lớn nhất Hiệp hội, Việt Nam có trách nhiệm và năng lực đóng góp nhiều hơn vào việc giữ ASEAN đứng vững trước sức ép chia rẽ từ cạnh tranh nước lớn, thúc đẩy xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông thực chất, hiệu lực, phù hợp với luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng phát biểu chào mừng tại Lễ khai mạc Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 37 năm 2020. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
2. Từ “Hội nhập” sang “Chủ động kiến tạo” và đóng góp toàn cầu
Nếu chặng đường từ 1986 đến nay là hành trình Việt Nam gia nhập và học cách vận hành trong các luật chơi quốc tế, thì chặng đường tới năm 2045 là bước chuyển sang vai trò đồng kiến tạo luật chơi. Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị (tháng 01/2025) về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đã nhấn mạnh: “phải chuyển từ xin nhận, gia nhập, tham gia sang chủ động đóng góp và xây dựng, định hình”[4]; hội nhập quốc tế là “sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị”, trong đó nội lực là yếu tố quyết định và hợp tác luôn đi đôi với đấu tranh[5]. Một quốc gia phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa năm 2045 không chỉ tuân thủ các chuẩn mực quốc tế, mà đã vươn lên tầm vóc đề xuất sáng kiến, dẫn dắt một số tiến trình khu vực và gánh vác trách nhiệm toàn cầu tương xứng với vị thế của mình.
Bước chuyển ấy trước hết diễn ra trong lĩnh vực kinh tế. Ngoại giao kinh tế được Đại hội XIII xác định là nhiệm vụ trung tâm, cơ bản của đối ngoại và Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục đặt yêu cầu lấy hội nhập làm động lực cho tăng trưởng hai con số[6]. Nhưng hội nhập ở tầm 2045 không còn là việc ký thêm hiệp định để mở thêm thị trường. Đó là việc Việt Nam tham gia đề xuất các khuôn khổ hợp tác mới về kinh tế số, kinh tế xanh, chuỗi cung ứng tin cậy; là việc các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, dẫn dắt chuỗi giá trị khu vực thay vì chỉ làm mắt xích gia công; là việc đồng tiền, thị trường vốn và các chuẩn mực quản trị của Việt Nam đủ tin cậy để trở thành một phần của hạ tầng tài chính khu vực. Khi nội lực đã đủ mạnh, hội nhập chuyển từ phương tiện tranh thủ ngoại lực thành phương thức để một quốc gia thể hiện trách nhiệm với sự thịnh vượng chung.
Trụ cột giữ gìn hòa bình
Từ hai sĩ quan đầu tiên được cử tới Nam Sudan năm 2014, đến nay Việt Nam đã có gần 1.400 lượt cán bộ, sĩ quan, quân nhân của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân tham gia các phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei và tại trụ sở Liên Hợp quốc; sáu thê đội bệnh viện dã chiến cấp 2 và ba thê đội công binh đã được triển khai[7]. Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, tạo khung pháp lý để mở rộng sự tham gia cả về quy mô lẫn loại hình[8]. Đến năm 2045, Việt Nam có thể trở thành một trong những quốc gia đóng góp hàng đầu khu vực cho các sứ mệnh gìn giữ hòa bình, với các lực lượng tinh nhuệ về y tế, công binh, cứu hộ cứu nạn, cảnh sát và an ninh mạng; đồng thời đóng vai trò trung gian hòa giải có uy tín, như đã từng làm khi đăng cai Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên năm 2019, kết nối các bên bất đồng trên tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp quốc.
Với lực lượng CAND, đây là một không gian sứ mệnh mới. Sự hiện diện của sĩ quan Công an Việt Nam trong các phái bộ Liên Hợp quốc, trong hợp tác phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng và tội phạm ma túy với Interpol, ASEANAPOL và các đối tác, không chỉ góp phần bảo vệ an ninh quốc gia từ sớm, từ xa, mà còn là cách để một lực lượng vũ trang nhân dân thể hiện trách nhiệm quốc tế của một đất nước yêu chuộng hòa bình.
Tiên phong giải quyết các bài toán toàn cầu
Chuyển dịch xanh. Cam kết đạt phát thải ròng bằng không vào năm 2050 mà Việt Nam đưa ra tại Hội nghị COP26 và cụ thể hóa trong Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu[9] đã đưa đất nước vào nhóm các nước đang phát triển có cam kết tham vọng nhất. Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) với nhóm các đối tác quốc tế, huy động 15,5 tỷ USD trong giai đoạn đầu[10], là một trong ba thỏa thuận loại này trên thế giới. Đến năm 2045, Việt Nam có thể trở thành mô hình tham chiếu về chuyển đổi năng lượng công bằng cho các nước đang phát triển: một quốc gia từng phụ thuộc vào than đã xây dựng được hệ thống năng lượng tái tạo, năng lượng mới và điện hạt nhân thế hệ mới, đồng thời chia sẻ công nghệ, kinh nghiệm và tín chỉ carbon với các nước đi sau. Đóng góp cho khí hậu, trong cách nhìn này, không phải là gánh nặng mà là một lĩnh vực mà Việt Nam có thể dẫn dắt.
An ninh lương thực và y tế. Là một trong những nước xuất khẩu gạo, cà phê, thủy sản hàng đầu thế giới, Việt Nam đã giữ vai trò bảo đảm an ninh lương thực cho nhiều khu vực trong những năm thị trường toàn cầu biến động. Đến năm 2045, với nền nông nghiệp sinh thái, công nghệ cao và phát thải thấp mà Kỳ 3 đã phân tích, vai trò ấy được nâng lên: Việt Nam không chỉ cung cấp lương thực mà cung cấp cả mô hình canh tác bền vững cho các nước đang phát triển ở châu Á và châu Phi. Trong lĩnh vực y tế, kinh nghiệm ứng phó đại dịch, năng lực sản xuất vắc-xin, dược phẩm và đội ngũ y tế dã chiến đã qua thử thách tại các phái bộ Liên Hợp quốc là cơ sở để Việt Nam đóng góp tích cực vào mạng lưới an ninh y tế toàn cầu.
Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, có ít nhất 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến[11]. Khi mục tiêu đó thành hiện thực, Việt Nam có thể tham gia định hình các chuẩn mực quốc tế về quản trị trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, dữ liệu xuyên biên giới, những lĩnh vực mà hôm nay luật chơi vẫn đang được viết và tiếng nói của các nước đang phát triển còn rất mỏng. Đó là ý nghĩa sâu xa nhất của việc chuyển từ “tham gia” sang “định hình”.
3. Sức mạnh mềm văn hóa và nguyện vọng dân tộc
Tầm vóc Việt Nam 2045 còn được đo bằng sức mạnh mềm: khả năng truyền cảm hứng và lan tỏa các giá trị nhân văn ra cộng đồng quốc tế. Một quốc gia có thể giàu mà không được kính trọng; điều làm nên sự kính trọng là văn hóa và cách ứng xử của dân tộc ấy với thế giới. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc lại một chân lý giản dị: “văn hóa còn thì dân tộc còn”[12]. Đến năm 2045, mệnh đề ấy có thể được bổ sung: văn hóa mạnh thì dân tộc có tiếng nói.
Văn hóa là đại sứ kết nối
Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến năm 2030 xác định văn hóa là một trụ cột của đối ngoại, ngang hàng với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế[13]. Đến năm 2045, công nghiệp văn hóa Việt Nam, từ điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, trò chơi điện tử đến ẩm thực và du lịch di sản, trở thành một ngành kinh tế có tỷ trọng đáng kể và là kênh lan tỏa hình ảnh đất nước hiệu quả nhất. Những di sản được UNESCO ghi danh, từ Hạ Long, Tràng An, Hội An đến nhã nhạc cung đình, quan họ, đờn ca tài tử, không còn chỉ là điểm đến mà trở thành chất liệu cho một nền công nghiệp sáng tạo mang bản sắc Việt có khả năng cạnh tranh trong khu vực. Đội ngũ trí thức, chuyên gia, doanh nhân cùng cộng đồng hơn sáu triệu người Việt Nam ở nước ngoài, được xác định là “bộ phận không tách rời” của dân tộc theo Nghị quyết 36-NQ/TW và Kết luận 12-KL/TW, là những “sứ giả văn hóa” tự nhiên và bền bỉ nhất, mang trí tuệ và uy tín Việt Nam đến mọi trung tâm khoa học, kinh tế của thế giới.
Sức mạnh mềm bắt nguồn từ chính chất lượng của mô hình phát triển. Một xã hội công bằng, một môi trường sống an toàn, một nền quản trị liêm chính là những thông điệp có sức thuyết phục hơn bất kỳ chiến dịch quảng bá nào. Người nước ngoài đến Việt Nam năm 2045 sẽ nhớ không chỉ phở và áo dài, mà nhớ một đất nước nơi họ thấy an toàn, được tôn trọng và chứng kiến con người sống tử tế với nhau.
Biểu tượng của sự vươn lên
Việt Nam đứng trong hàng ngũ thế giới năm 2045 với một tư cách đặc biệt: biểu tượng của một dân tộc từng chịu nhiều đau thương nhất của thế kỷ XX, chiến tranh, chia cắt, nghèo đói, bao vây, đã tự cường vươn lên thành một quốc gia thịnh vượng, công bằng và hạnh phúc theo con đường xã hội chủ nghĩa. Giá trị của biểu tượng này nằm ở chỗ nó không thể bị bác bỏ bằng lý luận: đó là một thực tế lịch sử. Đối với hàng tỷ người ở các nước đang phát triển, câu chuyện Việt Nam là bằng chứng rằng một dân tộc có thể vừa giữ được độc lập, vừa hội nhập; vừa phát triển nhanh, vừa không bỏ ai lại phía sau; vừa mở cửa, vừa giữ được bản sắc của mình. Nguyện vọng của dân tộc Việt Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi gắm từ mùa thu 1945, là “sánh vai với các cường quốc năm châu”[14], nhưng sánh vai theo nghĩa được kính trọng chứ không phải được e sợ, đóng góp chứ không áp đặt. Đó là sự khác biệt về tầm vóc mà chủ nghĩa xã hội mang lại cho một quốc gia phát triển.
Lời kết - Kỷ nguyên vươn mình và bản lĩnh tương lai dân tộc
Năm 2045, tròn một thế kỷ kể từ ngày Tuyên ngôn Độc lập vang lên trên Quảng trường Ba Đình, không chỉ là một cột mốc mang tính biểu tượng, mà là điểm hội tụ của khát vọng, trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gọi chặng đường mở ra từ Đại hội XIV là “kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”: kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, thịnh vượng, trong đó mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, và đất nước đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định và phát triển của thế giới[15].
Hai thập niên còn lại là quãng thời gian mà mọi tầm nhìn phải được chứng minh bằng hành động và những điểm nghẽn đã được gọi tên trong từng kỳ: thể chế chưa theo kịp yêu cầu phát triển, năng lực nội sinh của doanh nghiệp còn mỏng, chất lượng nguồn nhân lực chưa tương xứng, bối cảnh quốc tế ngày càng bất định. Yêu cầu mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, năm 2027 phải “tăng tốc, bứt phá, chuyển biến mạnh mẽ, tạo đà thực hiện mục tiêu cả nhiệm kỳ”[16], nhắc rằng mỗi năm của nhiệm kỳ này đều là một viên gạch của công trình 2045 và không viên gạch nào có thể để trống. Khát vọng 2045 là lời hứa lịch sử của thế hệ hôm nay trước thế hệ cha anh đã hy sinh xương máu và trước các thế hệ tương lai. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại điều mong muốn cuối cùng: “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[17].
Nguyễn Thị Hoài Thu
Nguyễn Đình Thiện
[1] Bộ Quốc phòng (2019), Quốc phòng Việt Nam 2019 (Sách trắng), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.23-24.
[2] Bộ Ngoại giao (2025), Tổng kết công tác đối ngoại năm 2025; xem thêm: “14 nước có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam”, vnbusiness.vn, ngày 30/10/2025.
[3] Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025, Hà Nội, tháng 01/2026.
[4] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
[5] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 59-NQ/TW, tlđd, mục I (Quan điểm chỉ đạo).
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, ngày 23/01/2026.
[7] Bộ Quốc phòng (2026), Báo cáo tổng kết hơn 10 năm Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (2014-2026); xem thêm: “Nâng cao vị thế Việt Nam trong hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc”, daibieunhandan.vn, ngày 21/9/2026.
[8] Quốc hội (2025), Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
[9] Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050.
[10] Tuyên bố chính trị thiết lập Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) giữa Việt Nam và Nhóm các đối tác quốc tế, Brussels, ngày 14/12/2022.
[11] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, mục II.
[12] Nguyễn Phú Trọng (2021), Phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Hà Nội, ngày 24/11/2021.
[13] Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 30/11/2021 phê duyệt Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến năm 2030.
[14] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.35.
[15] Tô Lâm (2024), “Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”, bài viết đăng trên Báo Nhân Dân, ngày 01/11/2024.
[16] Tô Lâm (2026), Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Hà Nội, ngày 05/10/2026.
[17] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.612 (Di chúc).