KỲ 4: NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ QUẢN TRỊ QUỐC GIA HIỆN ĐẠI
Lịch sử phát triển toàn cầu đã đúc kết một thực tiễn mang tính quy luật: Thể chế là nhân tố quyết định sự bứt phá hay tụt hậu của một quốc gia. Mọi mục tiêu kinh tế bứt phá (Kỳ 2) hay khát vọng an sinh, phát triển con người (Kỳ 3) sẽ mãi dừng lại trên giấy nếu thiếu một "hệ điều hành" quản trị quốc gia vận hành hiệu quả, minh bạch và năng động.
Bước tới mốc lịch sử 2045, Việt Nam xác lập mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân hoàn thiện, vận hành trên nền tảng quản trị quốc gia hiện đại và số hóa, trong đó sự lãnh đạo cầm quyền của Đảng là hạt nhân bảo đảm định hướng chiến lược và sự ổn định của đất nước.

Chính phủ số tiết kiệm hiệu quả thời gian và nguồn lực
1. Nhà nước xã hội chủ nghĩa - Thượng tôn pháp luật và thể chế kiến tạo phát triển
Thượng tôn pháp luật là nguyên tắc hiến định tối cao và là trụ cột cốt lõi trong tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trước yêu cầu khách quan của kỷ nguyên mới, nội hàm của nguyên tắc này đang trải qua sự chuyển hóa sâu sắc về chất, phát triển thành mô hình “thể chế kiến tạo phát triển”. Sự chuyển dịch này đóng vai trò thiết lập hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động đổi mới sáng tạo, triệt tiêu các điểm nghẽn thể chế, qua đó kiến tạo dư địa rộng mở để giải phóng, khơi thông động lực bứt tốc cho nền kinh tế. Đây được xem là tiền đề mang tính chiến lược, đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với toàn hệ thống chính trị trong việc đổi mới nhận thức và tái định hình triết lý lập pháp một cách căn bản, toàn diện.
Chuyển dịch tư duy pháp luật từ “công cụ quản lý thụ động” sang “kiến tạo phát triển”
Nhìn lại nhiều thập kỷ qua, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phát triển nhanh về số lượng nhưng lại bộc lộ xu hướng “hành chính hóa” các quan hệ dân sự và kinh tế. Lối tư duy coi pháp luật là công cụ để cơ quan nhà nước dễ quản lý, dẫn tới tình trạng “không quản được thì cấm” hoặc thiết lập các rào cản tiền kiểm đã làm tăng chi phí tuân thủ. Hậu quả là suy giảm động lực đổi mới sáng tạo, đồng thời tạo ra tâm lý “sợ sai”, đùn đẩy và né tránh trách nhiệm trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh, trong 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực thì thể chế là “điểm nghẽn” của “điểm nghẽn”. Chừng nào chưa dỡ bỏ được các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, chừng đó chúng ta chưa thể giải phóng được nguồn lực xã hội khổng lồ phục vụ phát triển kinh tế. Bước vào giai đoạn lịch sử mới, tư duy lập pháp truyền thống - vốn coi pháp luật là “công cụ quản lý thụ động”, thiên về cấm đoán, kiểm soát và đi sau thực tiễn - đang bộc lộ những rào cản kìm hãm sức sản xuất. Nhận thức sâu sắc vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta xác định việc chuyển dịch sang tư duy pháp luật “kiến tạo phát triển” là “đột phá của đột phá”, mở đường khơi thông mọi nguồn lực để đất nước tự tin vững bước vào kỷ nguyên mới. Quá trình chuyển dịch đòi hỏi một cuộc cách mạng về triết lý lập pháp, yêu cầu hệ thống pháp luật phải thực thi hiệu quả 03 vấn đề cốt lõi:
(1) Chuyển từ “kiểm soát hành vi” sang “khơi thông nguồn lực”, pháp luật không tập trung dựng rào cản mà kiến tạo hành lang thông thoáng, bảo vệ quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và tối ưu hóa phân bổ các nguồn lực xã hội;
(2) Chuyển đổi phương thức quản lý từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, cắt giảm tối đa các thủ tục cấp phép phức tạp trước khi hoạt động; thay vào đó là tăng cường giám sát dựa trên tiêu chí minh bạch và ứng dụng dữ liệu số;
(3) Chuyển từ “triệt tiêu rủi ro” sang “chấp nhận và quản trị rủi ro”, trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, cần áp dụng mạnh mẽ các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) để mở đường cho kinh tế số, kinh tế xanh và công nghệ cao…
Nghị quyết Đại hội XIV đã định hướng chiến lược đến năm 2045, hệ thống pháp luật phải từ bỏ vai trò quản lý thụ động, vươn mình trở thành hành lang pháp lý kiến tạo, bảo vệ tối đa quyền con người và quyền tự do kinh doanh chính đáng. Một dấu ấn lịch sử, minh chứng bằng chiến dịch tháo gỡ “điểm nghẽn” trong năm 2026 là việc triển khai Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý vướng mắc pháp luật. Chính phủ đã rà soát và đề xuất “sửa đổi, bổ sung 317 văn bản quy phạm pháp luật”[1].
Nhìn một cách tổng thể, hành trình từ “công cụ quản lý” đến “hành lang kiến tạo” là một cuộc cách mạng sâu sắc về nhận thức và hành động của toàn hệ thống chính trị dưới ánh sáng Đại hội XIV. Hướng tới năm 2045, để pháp luật thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, đội ngũ hoạch định chính sách cần duy trì tư duy nhạy bén, liên tục cập nhật thể chế bám sát thực tiễn, đặc biệt là phát huy tối đa hiệu năng điều hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Kỷ cương lập pháp phải được duy trì nghiêm minh để bảo đảm tính ổn định và tính dự báo, sao cho ngoại lệ không bị lạm dụng thành thông lệ. Nhưng trên hết, tinh thần thượng tôn pháp luật phải quyện chặt với khát vọng giải phóng sức lao động, bảo đảm và hướng tới mục tiêu “phụng sự Nhân dân và kiến tạo quỹ đạo phát triển trường tồn cho dân tộc”.
Khơi thông nguồn lực thông qua cải cách hành chính và tư duy “phục vụ”
Sự bứt phá của một quốc gia trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng không chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên hay nguồn vốn vật chất đơn thuần, mà được quyết định phần lớn bởi chất lượng của thể chế và năng lực kiến tạo của bộ máy nhà nước. Hướng tới khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc với tầm nhìn định hướng đến năm 2045, việc chuyển dịch tư duy của toàn hệ thống chính trị từ “quản lý, mệnh lệnh” sang “tận tâm phục vụ, chủ động kiến tạo” là một đòi hỏi mang tính quy luật khách quan. Công cuộc cải cách hành chính hiện nay không còn dừng lại ở việc cắt giảm giấy tờ bề mặt, mà đã đi sâu vào việc tháo gỡ các rào cản cấu trúc, qua đó khơi thông và giải phóng triệt để mọi nguồn lực sản xuất, biến tiềm năng của xã hội thành động lực nội sinh cho sự phát triển.
Do đó, tư duy “phục vụ” phải trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong mọi hoạt động công vụ. Thay vì thụ động chờ đợi cá nhân, tổ chức đến xin phép, bộ máy nhà nước phải chủ động thiết kế một môi trường thể chế thuận lợi, dự báo và dỡ bỏ những điểm nghẽn có nguy cơ kìm hãm sự phát triển. Đáng chú ý, để tư duy trên thực sự đi vào đời sống, cấu trúc bộ máy nhà nước phải được tinh gọn và tối ưu hóa. Sự vận hành của mô hình chính quyền mới hiện nay chính là một bước đột phá chiến lược về mặt tổ chức, phục vụ đắc lực cho mục tiêu này. Việc mạnh dạn cắt bỏ các tầng nấc hành chính trung gian, cồng kềnh đã giúp rút ngắn khoảng cách giữa nơi ban hành chính sách và nơi thực thi. Nhờ đó, các chính sách khơi thông nguồn lực có thể thẩm thấu trực tiếp và nhanh chóng vào nền kinh tế, bảo đảm bộ máy chính quyền cơ sở có đủ thẩm quyền, tính tự chủ và năng lực kiến tạo để phục vụ người dân một cách hiệu quả nhất.
Thực tiễn sinh động thời gian qua đã chứng minh rõ nét sự chuyển dịch trong tư duy “phục vụ”. Nhà nước sẵn sàng chia sẻ khó khăn, chấp nhận giảm thu ngân sách ngắn hạn để nuôi dưỡng nguồn thu dài hạn và bảo vệ “sức khỏe” của cộng đồng doanh nghiệp, tạo ra niềm tin chiến lược cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Song song với việc khơi thông nguồn lực tài chính, công tác cải cách thủ tục hành chính đang có những bước cải tiến mạnh mẽ giúp cho hàng triệu giờ công lao động của xã hội không còn bị lãng phí. Nguồn lực về thời gian, trí tuệ và sức lao động sẽ được tái đầu tư trực tiếp vào việc tạo ra thặng dư kinh tế.
Có thể thấy, sự giao thoa giữa định hướng chiến lược 2045 và những hành động quyết liệt trong năm 2026 đang phác họa một bức tranh tươi sáng về nền hành chính quốc gia. Việc khơi thông nguồn lực thông qua cải cách hành chính và tinh thần “tận tâm phục vụ”, bằng việc tối ưu hóa tổ chức bộ máy hành chính địa phương theo hướng tinh gọn, mạnh dạn trao quyền tự chủ qua cơ chế hậu kiểm và sử dụng linh hoạt các đòn bẩy tài chính với quy mô hàng trăm nghìn tỷ đồng, Nhà nước ta đang chứng minh năng lực điều hành hiệu quả trong kỷ nguyên mới. Đây chính là bệ phóng thể chế vững chắc nhất để giải phóng sức sản xuất, đánh thức mọi nguồn lực đang tiềm ẩn, đưa Việt Nam tự tin vươn lên thực hiện thành công khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng.
Tối ưu hóa bộ máy thực thi và tổ chức quyền lực nhà nước
Quá trình thiết kế và vận hành bộ máy nhà nước luôn là một trong những vấn đề hạt nhân của lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đặt trong bối cảnh đất nước đang dốc toàn lực hiện thực hóa khát vọng phát triển, việc tối ưu hóa bộ máy thực thi và tổ chức quyền lực nhà nước không chỉ đơn thuần là một cuộc cải cách hành chính cơ học, mà là một cuộc cách mạng sâu sắc về cấu trúc bộ máy. Hướng tới cột mốc lịch sử năm 2045, định hướng xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là phải kiến tạo một cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước vận hành thực sự hiệu quả, nhịp nhàng; từ bỏ tư duy tổ chức cồng kềnh, kiên quyết xóa bỏ hoàn toàn các tầng nấc trung gian không cần thiết để đạt đến một bộ máy tinh gọn, hiệu năng và minh bạch nhằm chuyển hóa các quyết sách chiến lược thành động lực vật chất to lớn, dẫn dắt quốc gia vươn lên phát triển bền vững.
Điểm nghẽn lớn nhất trong việc truyền tải chính sách và cách thức tổ chức, vận hành quyền lực từ trước đến nay chính là sự tồn tại của quá nhiều cấp hành chính trung gian, làm phát sinh sự chồng chéo về thẩm quyền và phân tán trách nhiệm. Nhận thức rõ lực cản này, thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước hiện nay, đặc biệt là trong giai đoạn bứt phá 2026, đang chứng kiến một sự chuyển dịch mạnh mẽ thông qua việc tối ưu hóa và vận hành thống nhất mô hình chính quyền địa phương mới. Việc kiên quyết loại bỏ các nấc thang hành chính trung gian không còn phù hợp với điều kiện lịch sử mới chính là bước đi mang tính đột phá, trực tiếp giải quyết bài toán “độ trễ của chính sách”. Với cơ cấu chính quyền hiện nay, quyền lực nhà nước và các quyết sách vĩ mô được truyền tải theo phương thức “trực tiếp, xuyên suốt”, thực thi nguyên tắc phân cấp, phân quyền; trao cho chính quyền địa phương quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm ở mức độ cao nhất, không còn là người thụ động chờ đợi mệnh lệnh hay xin ý kiến chỉ đạo cho những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, mà phải chủ động vươn lên, sử dụng tối đa dư địa thể chế để kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, hấp dẫn. Theo đó, địa phương nào có bộ máy năng động, dám nghĩ dám làm sẽ lập tức thu hút được dòng vốn lớn, tạo ra cực tăng trưởng mạnh mẽ; ngược lại, nơi nào trì trệ sẽ phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước Trung ương và nhân dân địa phương. Quyền lực lúc này không bị treo lơ lửng ở những cấp trung gian vô hình, mà được cá thể hóa, gắn chặt với hiệu quả thực thi công vụ của người đứng đầu.
Đặc biệt, sự tinh gọn của mô hình chính quyền ở chỗ “phần cứng” hoàn hảo để vận hành “phần mềm” mang tên Chính phủ số (E-Government) và tiến tới là Chính phủ dẫn dắt bởi dữ liệu (Data-driven Government). Cấu trúc phẳng của mô hình hai cấp tạo điều kiện lý tưởng để ứng dụng triệt để công nghệ thông tin. Khi công cuộc số hóa quốc gia đang bước vào giai đoạn chiều sâu, toàn bộ luồng công việc, quyết định hành chính và dòng chảy ngân sách đều có thể được cập nhật, theo dõi và giám sát theo thời gian thực trên trục liên thông dữ liệu quốc gia. Các quyết định quản lý nhà nước không còn dựa trên cảm tính hay các báo cáo giấy chậm trễ, mà được trích xuất trực tiếp từ các trung tâm dữ liệu lớn (Big Data). Mô hình kiến trúc thông tin này giúp Trung ương kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả, minh bạch mà không cần can thiệp hành chính trực tiếp, đồng thời cung cấp cho địa phương công cụ sắc bén để dự báo kinh tế, quy hoạch đô thị và phục vụ người dân với độ chính xác cao.
Việc tối ưu hóa bộ máy thực thi thông qua việc củng cố vững chắc mô hình chính quyền hiện nay gắn với nền tảng quản trị dữ liệu số là một bước tiến dài về mặt lý luận chính trị và tổ chức bộ máy. Đây là minh chứng rõ nét cho năng lực tự đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, sẵn sàng cho một cuộc “cách mạng” về tổ chức bộ máy. Khi bộ máy nhà nước tinh gọn, quyền lực nhà nước được tổ chức khoa học, phân công rành mạch, phối hợp nhịp nhàng và kiểm soát hiệu quả thông qua công nghệ và sự giám sát của Nhân dân, bộ máy đó chính là nguồn lực nội sinh to lớn kiến tạo nên những kỳ tích phát triển, đưa Việt Nam vững bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Nâng cao năng lực giải trình và tư pháp liêm chính
Trong tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh và nâng cao năng lực giải trình của bộ máy công quyền luôn được xem là một trong những trụ cột cốt lõi. Đây không chỉ là đòi hỏi tự thân của quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, mà còn là điều kiện tiên quyết để tạo dựng môi trường phát triển. Đứng trước khát vọng vươn mình của dân tộc đã đặt ra yêu cầu bức thiết: Nền tư pháp phải đạt trình độ chuyên nghiệp, liêm chính, bảo đảm mọi vi phạm bị xử lý bình đẳng, tuyệt đối không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Hơn thế nữa, tính chính danh và hiệu lực của bộ máy nhà nước phải được đong đếm bằng chính niềm tin của Nhân dân - thước đo cao nhất và duy nhất của công lý. Sự chuyển mình này đòi hỏi một cuộc cách mạng trong tư duy điều hành, nơi năng lực giải trình trở thành văn hóa, thành trách nhiệm chính trị của mọi cơ quan quyền lực nhà nước.
Một nền tư pháp liêm chính chỉ có thể tồn tại và phát huy hiệu lực trên nền tảng một hệ thống hành chính có “năng lực giải trình” cao; và ngược lại, sự minh bạch trong giải trình hành chính cần được bảo đảm bằng sự nghiêm minh, công bằng của lăng kính tư pháp. Năng lực giải trình không đơn thuần là việc cơ quan nhà nước trả lời các chất vấn của công luận, mà sâu xa hơn, đó là khả năng công khai hóa quá trình ra quyết định, minh bạch hóa các nguồn lực được sử dụng, và dũng cảm nhận trách nhiệm khi chính sách hoặc khâu thực thi bộc lộ khuyết điểm. Khi Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao (2045), cấu trúc xã hội và nền kinh tế sẽ vận hành với mức độ phức tạp rất lớn. Khi đó, một nền tư pháp không liêm chính hoặc một bộ máy thiếu năng lực giải trình sẽ lập tức tạo ra những “nút thắt cổ chai”, làm méo mó các quan hệ thị trường, kìm hãm đổi mới sáng tạo và làm xói mòn nghiêm trọng niềm tin chiến lược của người dân, nhà đầu tư đối với chế độ. Do đó, xây dựng tư pháp liêm chính gắn với năng lực giải trình thực chất là quá trình tự đổi mới, tự hoàn thiện của hệ thống chính trị, lấy việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân làm trung tâm của mọi hoạt động.
Những chuyển biến mạnh mẽ, sự chuyên nghiệp hóa trong quản trị quốc gia hiện nay đang được thể hiện rõ thông qua cơ chế đối thoại thẳng thắn và tư duy “giải quyết dứt điểm”. Theo các số liệu cập nhật mới nhất, tính đến tháng 10/2026, các cơ quan quản lý nhà nước đã thể hiện năng lực giải trình hiệu quả khi chủ động tháo gỡ và giải quyết dứt điểm “146/202 nhóm kiến nghị của doanh nghiệp đã được các bộ, cơ quan trả lời, giải quyết dứt điểm, chiếm khoảng 72% tổng số nhóm kiến nghị”[2]. Trong cải cách tư pháp, những kết quả đạt được “đã góp phần quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp và thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động tư pháp; đấu tranh hiệu quả với các loại tội phạm; bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; tạo môi trường ổn định phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước[3].
Như vậy, nâng cao năng lực giải trình và xây dựng nền tư pháp liêm chính là hai mặt của một quá trình kiến tạo sự phát triển bền vững. Định hướng 2045 chỉ có thể trở thành hiện thực khi bộ máy quyền lực nhà nước tự giác đặt mình dưới sự giám sát tối cao của Nhân dân, thông qua những cơ chế đối thoại và phản biện minh bạch nhất. Những kết quả đạt được trong thời gian qua là minh chứng cho một nguyên lý: Sức mạnh của Nhà nước không nằm ở việc sở hữu bao nhiêu công cụ cưỡng chế, mà nằm ở năng lực nhận diện, giải trình và khắc phục những giới hạn của chính mình, qua đó không ngừng bồi đắp vốn liếng quý giá nhất của thể chế chính trị - đó là niềm tin của Nhân dân vào ánh sáng của công lý và sự liêm chính của nền hành chính, quản trị quốc gia.
2. Quản trị quốc gia hiện đại - Chính phủ số và nền hành chính tinh gọn
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đặt ra yêu cầu tái cấu trúc toàn diện phương thức quản trị quốc gia. Đến năm 2045, khi Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, nền quản trị nhà nước không thể vận hành theo lối mòn hành chính truyền thống mà phải chuyển mình mạnh mẽ thành một hệ sinh thái quản trị hiện đại, minh bạch, kiến tạo dựa trên ba trụ cột cốt lõi:
Chính phủ điều hành dựa trên dữ liệu (Data-driven Government)
Đại hội XIV đã có sự thay đổi căn bản tư duy về chuyển đổi số, xác định đây không chỉ là công cụ kỹ thuật mà là một cuộc cách mạng làm thay đổi bản chất phương thức tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước. Để kiến tạo một Chính phủ điều hành dựa trên dữ liệu thực chất và hiệu quả, nền quản trị quốc gia đang được tái cấu trúc đồng bộ trên các phương diện cốt lõi sau:
(1) Tự động hóa dịch vụ công, triệt tiêu cơ chế “xin - cho” Tầm nhìn đến năm 2045 xác định mục tiêu chiến lược là 100% dịch vụ công được tự động hóa hoàn toàn trên môi trường số. Việc chuyển đổi từ giao dịch trực tiếp sang nền tảng số không chỉ tối ưu hóa nguồn lực mà còn đóng vai trò như một bộ lọc thể chế, triệt tiêu tận gốc mảnh đất phát sinh nhũng nhiễu. Sự triệt tiêu toàn của cơ chế “xin - cho” và các chi phí không chính thức chính là điều kiện tiên quyết để định hình một nền hành chính liêm chính, minh bạch và tận tâm phục vụ;
(2) Ra quyết định theo thời gian thực và phá vỡ “cát cứ thông tin”, kỷ nguyên của những quyết sách dựa trên báo cáo giấy định kỳ, có độ trễ cao và mang nặng cảm tính sẽ chấm dứt. Thay vào đó, Chính phủ số phải được vận hành trên nền tảng phân tích dữ liệu thời gian thực (Real-time Data). Đặc biệt, khi vận hành trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, hệ thống dữ liệu liên thông sẽ xóa bỏ tình trạng “cát cứ thông tin” giữa các bộ ngành và địa phương. Chỉ đạo điều hành từ Trung ương sẽ xuyên suốt trực tiếp đến cơ sở, không bị bóp méo hay nghẽn mạch qua các tầng nấc trung gian.
(3) Tích hợp AI để nâng cao năng lực “quản trị đón đầu”, các trung tâm dữ liệu quốc gia (Big Data) kết hợp cùng Trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ trở thành nền tảng cho phép Chính phủ không chỉ giải quyết các vấn đề hiện tại mà còn chuyển sang trạng thái “quản trị đón đầu” - khả năng nhận diện sớm biến động thị trường, dự báo rủi ro kinh tế vĩ mô và phản ứng tức thời với các cú sốc toàn cầu. Quyết sách được ban hành sẽ mang tính kiến tạo, dẫn dắt thay vì đối phó thụ động;
(4) Dân chủ hóa dữ liệu và bứt phá năng lực giải trình, quản trị bằng dữ liệu sẽ triệt tiêu tình trạng “bất đối xứng thông tin” giữa cơ quan công quyền và người dân. Mọi dòng chảy ngân sách, tiến độ dự án trọng điểm, và kết quả giải quyết thủ tục đều được lưu vết minh bạch, sự giám sát của Nhân dân từ chỗ mang tính đại diện trở thành một thực thể số hóa, trực diện, rộng khắp và hiệu quả hàng ngày;
(5) Bảo đảm an ninh dữ liệu và chủ quyền không gian số quốc gia, trong kỷ nguyên mới, dữ liệu chính là tài nguyên quốc gia chiến lược, do đó, việc xây dựng hành lang pháp lý vững chắc để bảo vệ dữ liệu cá nhân của người dân, chống rò rỉ thông tin và khẳng định tuyệt đối chủ quyền không gian số quốc gia là điều kiện tiên quyết để hệ thống quản trị vận hành an toàn, thông suốt.
Tinh gọn bộ máy và tối ưu hóa qua sự vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp
Một Chính phủ số thông minh, kiến tạo không thể được “cấy ghép” trên một cơ thể hành chính đa tầng, cồng kềnh và chậm chạp. Vì vậy, giải pháp mang tính đột phá và xuyên suốt là kiên định hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước theo mô hình mới. Sự chuyển đổi này không chỉ là bài toán cơ học về sắp xếp tổ chức, mà còn mang lại những giá trị tối ưu hóa sâu sắc trên các phương diện sau:
(1) Dứt điểm căn bệnh “đùn đẩy, né tránh” và cá thể hóa trách nhiệm, khi ranh giới thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ được phân định rạch ròi, minh bạch giữa hai cấp chính quyền, các cơ quan cơ sở được đặt vào thế phải bứt phá: tự chủ quyết định và tự chịu trách nhiệm tối đa, xóa bỏ tâm lý ỷ lại, chờ đợi chỉ đạo tuyến trên, đồng thời cá thể hóa đến cùng trách nhiệm của người đứng đầu tại từng cấp quản lý;
(2) Giải phóng nguồn lực, tối ưu hóa ngân sách nhà nước, tinh gọn thành mô hình chính quyền hai cấp đồng nghĩa với việc thực hiện thành công mục tiêu tinh giản biên chế một cách thực chất. Dòng ngân sách khổng lồ trước đây phải chi trả cho bộ máy hành chính trung gian (chi thường xuyên) sẽ được chuyển hóa trực tiếp thành nguồn vốn đầu tư phát triển cho các công trình hạ tầng chiến lược, y tế, giáo dục và công nghệ;
(3) Kiến tạo bộ máy phản ứng nhanh, kiến tạo môi trường đầu tư, một cấu trúc phẳng tạo ra một bộ máy chính quyền linh hoạt, bám sát thực tiễn và sát dân. Thẩm quyền được giao quyền trực tiếp giúp chính quyền cơ sở đủ sức giải quyết các xung đột dân sự, các vấn đề an ninh, trật tự ngay tại nơi khởi phát. Đồng thời, tốc độ giải quyết thủ tục hành chính được đẩy lên mức tối đa, trực tiếp nâng cao năng lực kiến tạo môi trường đầu tư minh bạch, hấp dẫn, tạo bệ phóng cho doanh nghiệp phát triển.
Có thể khẳng định, sự hội tụ giữa “Chính phủ điều hành bằng dữ liệu” và “Chính quyền địa phương hai cấp” chính là xung lực kép, quyết định sự thành bại của công cuộc cải cách thể chế, đưa đất nước phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới.
Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức và bệ phóng “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”
Thiết chế bộ máy và công nghệ số dù ưu việt đến đâu cũng sẽ tê liệt nếu thiếu đi những con người đủ tầm vóc để vận hành. Khắc ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”[4], Hội nghị Trung ương 4 Khóa XIV đã thông qua Nghị quyết về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Tầm nhìn 2045 đặt ra một hệ tiêu chuẩn khắt khe: Đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước không chỉ tinh thông nghiệp vụ mà phải đạt chuẩn quốc tế về năng lực quản trị toàn cầu, tư duy chiến lược và sự liêm chính. Đây là bước chuyển đổi mang tính cách mạng từ vị thế của những “viên chức hành chính” thụ động, nặng về thừa hành sang vai trò của những “nhà quản trị công kiến tạo”, đủ năng lực dẫn dắt sự phát triển.
Tuy nhiên, để bứt phá giới hạn và phát huy tối đa trí tuệ của đội ngũ này, thể chế phải khẩn trương kiến tạo một hành lang pháp lý vững chắc để bảo vệ những cán bộ “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung”. Cơ chế này phải được luật hóa thành một chế định bảo vệ thực chất, với các tiêu chí rành mạch nhằm phân định rạch ròi giữa sai sót rủi ro do thử nghiệm đổi mới sáng tạo và vi phạm cố ý do tư lợi, tham nhũng. Việc thiết lập “tấm khiên” thể chế này đặc biệt mang ý nghĩa sống còn. Nếu không có cơ chế bảo vệ khuyết điểm mang tính rủi ro, áp lực trách nhiệm khổng lồ sẽ trực tiếp tái sinh tâm lý co cụm, “sợ sai, sợ trách nhiệm” và “làm cầm chừng”.
Đồng thời, bệ phóng “dám nghĩ, dám làm” phải được gắn liền với sự thay đổi triệt để trong công tác đánh giá và sử dụng cán bộ. Đến năm 2045 - khi nền hành chính nhà nước vận hành theo các chuẩn mực quản trị toàn cầu, thước đo năng lực cán bộ không thể tiếp tục rập khuôn theo tư duy “tròn vai”, thụ động tuân thủ quy trình. Thay vào đó, thước đo năng lực giờ đây phải được định lượng bằng sản phẩm thực tế, bằng khả năng tháo gỡ điểm nghẽn và tỷ lệ hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp. Chỉ khi những cán bộ dám dấn thân được “che chắn” bởi pháp luật kiến tạo và được đánh giá công tâm bằng hiệu quả, sự trì trệ mới bị triệt tiêu tận gốc. Khi nút thắt về tâm lý và thể chế được tháo gỡ, khát vọng cống hiến mãnh liệt của đội ngũ cán bộ sẽ bùng nổ, quy tụ được tinh hoa trí tuệ của toàn xã hội. Sự chuyển hóa này không chỉ giải phóng năng lực cá nhân, mà sẽ kết tinh thành nguồn động lực nội sinh, đóng vai trò là cỗ máy gia tốc đưa nền quản trị quốc gia bứt tốc. Đó là điều kiện tiên quyết để Việt Nam tự tin hội nhập, thiết lập một nền hành chính phục vụ chuyên nghiệp và sánh vai ngang tầm với các nền văn minh tiên tiến trên thế giới vào dấu mốc lịch sử 2045.
3. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa
Trong cấu trúc của hệ thống chính trị Việt Nam, sự hoàn thiện của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền quản trị quốc gia hiện đại không thể tách rời việc đổi mới căn bản, toàn diện phương thức lãnh đạo của Đảng. Hướng tới mốc lịch sử kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định một chân lý mang tính quy luật khách quan: Sự đổi mới và tự chỉnh đốn của Đảng chính là cội nguồn sức mạnh, là bảo chứng vững chắc nhất cho sự bứt phá và phát triển trường tồn của dân tộc khi bước vào kỷ nguyên mới.
Hạt nhân lãnh đạo, bảo đảm định hướng và sự ổn định chính trị chiến lược
Để hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần một bệ đỡ chính trị nhằm vượt qua những khúc quanh đầy biến động của thời đại toàn cầu hóa. Trong bối cảnh đó, vai trò lãnh đạo, cầm quyền toàn diện, tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam được khẳng định là nhân tố hạt nhân, quyết định mọi thắng lợi. Sự lãnh đạo của Đảng không chỉ là sứ mệnh lịch sử được nhân dân ủy thác, mà còn là một tất yếu thực tiễn để kiến tạo và duy trì một nền chính trị ổn định - điều kiện tiên quyết mà mọi quốc gia muốn phát triển bền vững đều phải sở hữu.
Đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới không đồng nghĩa với việc Đảng bao biện, làm thay công việc của Nhà nước. Ngược lại, với tư duy chiến lược nhạy bén, Đảng đóng vai trò “người cầm lái” và “kiến trúc sư trưởng”, vạch ra cương lĩnh, đường lối, nghị quyết để định hướng quỹ đạo phát triển kinh tế - xã hội. Bằng việc phân định rành mạch chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước, Đảng tạo ra không gian rộng mở để bộ máy công quyền phát huy tính chủ động, sáng tạo. Điều này bảo đảm sự bứt phá tốc độ cao của nền kinh tế thị trường hội nhập sâu rộng, nhưng tuyệt đối không bao giờ chệch khỏi định hướng và bản chất nhân văn, tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội.
Để hiện thực hóa đường lối vào đời sống, phương thức cầm quyền của Đảng tiếp tục được nâng tầm thông qua nguyên tắc hiến định: Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng việc “thể chế hóa” các chủ trương thành Hiến pháp và pháp luật. Đảng Cộng sản Việt Nam không đứng trên pháp luật, mà tổ chức đảng và mọi đảng viên đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, lấy sự nghiêm minh của pháp chế xã hội chủ nghĩa làm nền tảng. Khi đường lối của Đảng được “khoác tấm áo pháp lý”, nó trở thành ý chí chung của toàn dân tộc và có sức mạnh cưỡng chế thực thi đồng bộ trên toàn quốc.
Song song đó, quyền lực lãnh đạo của Đảng được chuyển hóa trực tiếp thông qua công tác cán bộ - khâu “then chốt của then chốt”. Bằng việc lựa chọn, đào tạo và bố trí những cán bộ, đảng viên tinh hoa, có tư duy đổi mới, liêm chính và “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” vào các vị trí trọng yếu của bộ máy Nhà nước, Đảng đã biến khát vọng phát triển thành hành động thực tiễn. Bước vào Kỷ nguyên mới, phương thức lãnh đạo của Đảng ngày càng mang tính khoa học, dựa trên tư duy dự báo chiến lược và ứng dụng nền tảng số. Chính sự dẫn dắt sáng suốt, bản lĩnh và không ngừng tự đổi mới này đã biến Đảng thành trung tâm hội tụ trí tuệ, quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thiết lập nên một bệ phóng thể chế vững chãi để đưa con tàu quốc gia băng qua sóng cả, thẳng tiến tới mục tiêu hùng cường 2045.
Kiểm soát tham nhũng, lãng phí và tự chỉnh đốn để nâng tầm năng lực cầm quyền
Bước vào giai đoạn lịch sử mới sau Đại hội XIV, phương thức cầm quyền của Đảng chứng kiến sự đổi mới sâu sắc: Đảng không đứng ngoài hay đứng trên pháp luật, mà trực tiếp hóa thân, thể chế hóa đường lối, chủ trương của mình thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Năng lực cầm quyền của Đảng giờ đây không chỉ nằm ở các nghị quyết, mà được đo lường bằng chính hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp và bằng “sự nêu gương” từ trên xuống dưới của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đại hội XIV nhấn mạnh, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được tiến hành kiên trì, liên tục, không ngừng nghỉ, coi đây là nhiệm vụ sống còn để bảo vệ chế độ và dẫn dắt quốc gia.
Điểm nhấn mang tính đột phá của giai đoạn này là sự gắn kết hữu cơ giữa đổi mới phương thức lãnh đạo với chiến lược phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, và đặc biệt là nâng tầm mặt trận “chống lãng phí” lên một tầm cao mới. Tham nhũng và lãng phí được Đảng nhận diện thẳng thắn là những “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, là những “giặc nội xâm” làm xói mòn tính chính danh của chế độ và bòn rút tàn nhẫn nguồn lực quốc gia. Nếu tham nhũng là hành vi trục lợi cá nhân, thì lãng phí nguồn lực (thời gian, nhân lực, vốn đầu tư công, tài nguyên) chính là sự kìm hãm trực tiếp tốc độ tăng trưởng, làm lỡ nhịp phát triển của đất nước. Do đó, việc thiết lập các cơ chế kiểm soát quyền lực bằng thể chế - thực chất là “nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế” - và áp dụng kỷ luật thép “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”, chính là cách Đảng tự thanh lọc, tự phẫu thuật cắt bỏ những khối u để làm sạch cơ thể mình. Mục tiêu của công cuộc này không chỉ dừng lại ở việc trừng trị tội phạm, mà hướng tới việc kiến tạo một hệ sinh thái quản trị minh bạch để đạt được 04 nguyên tắc: “không thể, không dám, không muốn và không cần tham nhũng”. Qua đó, khơi thông mọi nguồn lực đang bị ách tắc, đóng băng.
Để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, sự liêm chính của bộ máy nhà nước không chỉ là một đòi hỏi về mặt đạo đức, mà phải trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi của quốc gia trên trường quốc tế. Một hệ thống chính trị tinh gọn, một bộ máy lãnh đạo liêm chính và một Đảng cầm quyền trong sạch sẽ tạo ra sức hút quan trọng, to lớn. Sự liêm chính đó sẽ quy tụ tinh hoa dân tộc, thu hút các nguồn lực đầu tư toàn cầu và truyền cảm hứng mãnh liệt để toàn xã hội đồng lòng, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa thực chất - Nền tảng số và sức mạnh đồng thuận
Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng chỉ thực sự vững mạnh, bám rễ sâu vào thực tiễn khi lấy lợi ích tối thượng của Nhân dân làm trung tâm, làm điểm xuất phát và đích đến của mọi quyết sách. Khác với những mô hình dân chủ mang tính hình thức, dân chủ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đòi hỏi sự tham gia thực chất của người dân vào quá trình quản trị quốc gia theo phương châm toàn diện: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trong đó, “dân thụ hưởng” chính là thước đo cao nhất, khẳng định tính ưu việt của chế độ.
Đứng trước sự bùng nổ của nền kinh tế số và Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số chính là đòn bẩy đột phá để mở rộng biên độ không giới hạn cho không gian thực hành dân chủ. Việc số hóa toàn diện giúp thu hẹp triệt để khoảng cách vật lý và xóa bỏ sự bất đối xứng thông tin giữa bộ máy nhà nước và công dân, kiến tạo một “không gian dân chủ số” liên tục 24/7. Tại đây, quyền làm chủ trực tiếp và quyền dân chủ đại diện được song hành phát huy ở mức tối đa. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội được trang bị các công cụ Trí tuệ nhân tạo (AI) và phân tích Dữ liệu lớn (Big Data) để rà quét, lắng nghe dư luận xã hội theo thời gian thực; từ đó tổ chức giám sát, phản biện xã hội một cách khoa học, sắc bén, trúng đích.
Đột phá hơn khi bước vào Kỷ nguyên mới, thông qua các nền tảng công dân số quốc gia, mọi người dân chỉ với một thiết bị kết nối đều trở thành một chủ thể giám sát trực tiếp và thực chất. Người dân không chỉ trực tiếp đánh giá năng lực cán bộ cơ sở, chấm điểm dịch vụ công, mà còn tham dự vào các mô hình “ngân sách có sự tham gia” (quyết định việc chi tiêu cho các công trình phúc lợi tại địa phương) và đóng góp sáng kiến lập pháp ngay từ khâu dự thảo. Sự tương tác hai chiều, minh bạch và tức thời trên môi trường số giúp Nhà nước nhận diện sớm các điểm nghẽn, hóa giải các mâu thuẫn xã hội từ sớm, từ xa, chuyển từ “quản trị giải quyết hậu quả” sang “quản trị kiến tạo và dự báo”.
Mốc son 2045, khi Việt Nam hoàn thành mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thực chất trên nền tảng số sẽ trở thành một hình mẫu quản trị ưu việt. Sự hội tụ giữa một nền kinh tế thịnh vượng và một nền dân chủ, minh bạch sẽ triệt tiêu hoàn toàn những tiếng nói lạc lõng, chống phá. Nó kết tinh sức mạnh muôn người như một, tạo thành khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự đồng thuận, đây là nguồn nội lực vĩ đại nhất, là bệ phóng đưa con tàu đất nước bứt tốc, tự tin vươn ra biển lớn, sánh vai cùng các cường quốc năm châu trong kỷ nguyên mới./.
Trần Kim Hoàng
Nguyễn Đình Thiện
[1] https://www.vietnamplus.vn/thao-go-diem-nghen-phap-luat-tranh-tao-khoang-trong-the-che-post1143792.vnp
[2]https://thoibaotaichinhvietnam.vn/cai-cach-the-che-tao-don-bay-cho-doanh-nghiep-tang-toc-phat-trien-205698.html
[3]https://noichinh.vn/cong-tac-tu-phap/202606/hoi-nghi-tong-ket-hoat-dong-cua-ban-chi-dao-cai-cach-tu-phap-trung-uong-315603/
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.280.