Nghiên cứu Quốc tế
Thứ Hai, 17/8/2026 8:18'(GMT+7)

MỐI TÌNH ĐẶC BIỆT VIỆT – LÀO: BỆ ĐỠ LỊCH SỬ, TẦM NHÌN TƯƠNG LAI

Trong lịch sử quan hệ quốc tế, có những liên minh được hình thành bởi tính toán lợi ích ngắn hạn, nhưng cũng có những mối quan hệ được tôi luyện qua giông bão lịch sử để trở thành biểu tượng vĩnh cửu của sự thủy chung. Tình đoàn kết vĩ đại, quan hệ đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào chính là một di sản như thế, một mối quan hệ “có một không hai” trên thế giới, vừa là quy luật sinh tồn, vừa là mạch nguồn sức mạnh tự nhiên của hai dân tộc cùng tựa lưng vào dải Trường Sơn hùng vĩ.

Gần một thế kỷ đồng hành đã trôi qua, từ những năm tháng “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” nơi chiến trường khói lửa, đến giai đoạn kề vai sát cánh mở đường hội nhập hôm nay, dòng chảy nghĩa tình Việt - Lào chưa một ngày ngưng chảy. Thế nhưng, giữa một thế giới phẳng đầy biến động với những dịch chuyển địa - chính trị phức tạp, làm sao để ngọn lửa keo sơn ấy tiếp tục cháy sáng trong tim thế hệ trẻ, những người chưa từng đi qua bom đạn? Làm sao để tài sản vô giá ấy không chỉ lưu giữ trong những trang sử, mà trở thành động lực bứt phá cho tương lai của cả hai quốc gia?

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh (phải) và Hoàng thân Souphanouvong (trái) tại chiến khu Việt Bắc năm 1951. Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh

Qua 4 kỳ sẽ dẫn dắt người đọc bước trọn một hành trình: Từ cội nguồn lịch sử – nơi máu và nước mắt của hai dân tộc hòa quyện trên dải Tây Trường Sơn huyền thoại; Đến bản lĩnh chính trị – sự tin cậy chiến lược cấp cao đóng vai trò như đá tảng giữ vững bình yên cho mỗi nước; Qua những đột phá thực tiễn – khi hợp tác Quốc phòng - An ninh và Kết nối kinh tế trở thành hai cánh đà đưa Lào tiến ra biển lớn và bảo vệ không gian sinh tồn chung; Và hướng tới tương lai – nơi thế hệ trẻ hai nước cùng chung tay viết tiếp câu chuyện hữu nghị bằng tri thức, công nghệ và khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên số.

Trang Thông tin điện tử Học viện Chính trị Công an nhân dân trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả loạt bài viết này, như một lời tri ân gửi về quá khứ hào hùng, một lời khẳng định cho hiện tại vững chãi, và một niềm tin sắt son vào tương lai rạng ngời, trường tồn của tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào.

 

KỲ 1: CỘI NGUỒN LỊCH SỬ – “HẠT MUỐI CẮN ĐÔI, CỌNG RAU BẺ NỬA”

 

Trong lịch sử quan hệ quốc tế, hiếm có mối liên kết nào đặc biệt, thủy chung và bền chặt như tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào. Đó không đơn thuần là mối quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia láng giềng “môi hở răng lạnh”, mà là một liên minh chiến đấu tự nhiên, được tôi luyện qua lửa bão của chiến tranh, được nâng niu bằng mồ hôi, máu xương và sự hy sinh vô bờ bến của nhiều thế hệ người con hai nước.

 

Đường Trường Sơn: Biểu tượng liên minh chiến đấu Việt - Lào. Nguồn: Chuyên trang Video-Audio Báo Quân đội nhân dân

1. Dải Trường Sơn vĩ đại và định mệnh giao thoa của hai dân tộc

Nằm tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, Việt Nam và Lào sở hữu đường biên giới chung kéo dài hơn 2.300 km, trải dọc suốt từ Bắc đến Nam qua địa hình núi non hiểm trở bậc nhất Đông Dương. Nhưng sự tự nhiên của địa lý mới chỉ là “nét vạch” khởi đầu; chính hoàn cảnh lịch sử chung mới là chất keo ngưng tụ nên bản sắc của mối tình này. Từ nghìn đời nay, nhân dân hai nước đã cùng uống chung dòng nước Mê Công, cùng nghe tiếng chày giã gạo rộn rã biên thùy, cùng chia sẻ những phong tục, tập quán giàu tính nhân văn và cùng hình thành nên một không gian sinh tồn chung mà không một đường biên giới hành chính nào có thể chia cắt trọn vẹn về mặt văn hóa, tộc người và tâm thức cộng đồng.

Chính vì cùng chia sẻ một không gian địa lý - văn hóa như vậy, khi chủ nghĩa đế quốc và thực dân đặt chân đến Đông Dương vào cuối thế kỷ XIX, định mệnh của hai dân tộc càng gắn chặt làm một. Thực dân Pháp áp đặt bộ máy cai trị chung lên toàn cõi Đông Dương, biến cả Việt Nam và Lào thành thuộc địa trong cùng một thể chế; và cũng chính từ nghịch cảnh ấy, một logic lịch sử tất yếu đã hình thành: cùng chung một kẻ thù, cùng gánh chịu kiếp đời nô lệ dưới ách thống trị ngoại bang, người dân hai nước nhanh chóng nhận ra một sự thật mang tính quy luật chiến lược: sự nghiệp giải phóng của Việt Nam không thể tách rời sự nghiệp giải phóng của Lào, và ngược lại. Đây không phải là một khẩu hiệu chính trị được áp đặt từ bên ngoài, mà là kết luận tự nhiên rút ra từ chính thực tiễn đấu tranh sinh tồn của cả hai dân tộc.

Nhận thức ấy nhanh chóng được nâng lên thành tư duy chiến lược có tổ chức. Năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, đặt nền móng lý luận đầu tiên cho việc gắn kết phong trào cách mạng của ba nước Đông Dương thành một mặt trận đấu tranh thống nhất. Tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các lãnh tụ tiền bối như Chủ tịch Kaysone Phomvihane, Hoàng thân Souphanouvong đã đặt những gạch nối đầu tiên cho liên minh chiến đấu Việt - Lào, biến một chủ trương lý luận thành một thực tiễn cách mạng sinh động. Nhận thức rõ tầm quan trọng của địa - chính trị Đông Dương, Bác Hồ từng khẳng định: “Việt - Lào hai nước chúng ta / Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”. Đó không chỉ là câu thơ giàu cảm xúc, mà là một đúc kết chiến lược mang tầm vóc thời đại, đặt cơ sở tư tưởng cho toàn bộ tiến trình hợp tác cách mạng sau này giữa hai dân tộc.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến trường Đông Dương vốn dĩ đã không thể bị chia cắt một cách máy móc theo đường biên giới hành chính. Quân Pháp có thể rút lui từ chiến trường Việt Nam sang trú ẩn, tập kết lực lượng và mở các cuộc phản công từ đất Lào và ngược lại; vì vậy, một chiến trường Đông Dương thống nhất về mặt tác chiến gần như là điều kiện bắt buộc để cả hai dân tộc có thể giành thắng lợi trọn vẹn. Chính vì lẽ đó, ngay từ những năm đầu kháng chiến, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đã có mặt trên đất Lào, phối hợp cùng lực lượng Lào Itxala xây dựng cơ sở cách mạng, mở ra một chương hợp tác vũ trang mà sau này sẽ được nâng lên thành liên minh chiến đấu toàn diện.

Đáng chú ý, sự gắn kết giữa hai dân tộc trong giai đoạn này không phải là quan hệ một chiều theo kiểu “nước lớn giúp nước nhỏ”, mà là mối quan hệ hỗ tương, nương tựa lẫn nhau trên tinh thần bình đẳng. Trong khi Việt Nam hỗ trợ Lào về kinh nghiệm tổ chức lực lượng vũ trang và xây dựng cơ sở chính trị, thì chính nhân dân các bộ tộc Lào lại là chỗ dựa hậu cần, là “lá chắn sống” che chở cho bộ đội Việt Nam mỗi khi hành quân qua những cánh rừng biên giới. Sự tương hỗ hai chiều này, được lặp lại liên tục trong suốt những năm tháng kháng chiến chống Pháp, chính là bước tập dượt quan trọng, chuẩn bị cả về mặt tổ chức lẫn tâm thế, cho một cuộc đọ sức còn khốc liệt hơn nhiều sẽ diễn ra ngay sau đó, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, mà đỉnh cao chính là cuộc chiến đấu bảo vệ và duy trì tuyến chi viện chiến lược trên dải Tây Trường Sơn.

Cũng trong giai đoạn này, hai bên đã sớm hình thành một nguyên tắc phối hợp mang tính đặt nền móng: mọi hoạt động của lực lượng vũ trang Việt Nam trên đất Lào đều được tiến hành trên cơ sở thỏa thuận, hiệp đồng chặt chẽ với phía bạn, tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và sự lãnh đạo của cách mạng Lào đối với chính công cuộc đấu tranh của mình. Nguyên tắc ấy vừa thể hiện tình đoàn kết chiến đấu, vừa giữ vững tính chính danh và độc lập của cách mạng mỗi nước về sau đã trở thành một chuẩn mực xuyên suốt, chi phối toàn bộ cách thức hai Đảng, hai quân đội phối hợp với nhau trong suốt giai đoạn kháng chiến chống Mỹ đầy cam go tiếp sau đó.

Có thể thấy, chính sự cộng hưởng giữa bốn yếu tố: địa lý tự nhiên gắn liền, hoàn cảnh lịch sử tương đồng, tầm nhìn chiến lược của các lãnh tụ cách mạng và thực tiễn phối hợp tác chiến từ thời kháng chiến chống Pháp đã tạo nên một nền tảng vững chắc, để từ đó mối quan hệ Việt - Lào không dừng lại ở tình láng giềng thông thường, mà phát triển thành một liên minh chiến đấu tự nguyện, gắn bó máu thịt. Và chính nền tảng tư tưởng - chính trị ấy đã sớm được kiểm chứng bằng thực tiễn khắc nghiệt nhất: cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ trên chính mảnh đất Tây Trường Sơn.

2. Tây Trường Sơn: Nơi máu quyện cùng máu, ý chí hòa cùng ý chí của hai dân tộc Việt – Lào

Nói đến liên minh chiến đấu Việt - Lào trong thế kỷ XX, không thể không nhắc tới tuyến đường chiến lược huyền thoại: Đường Hồ Chí Minh trên dải Tây Trường Sơn, băng qua lãnh thổ Lào. Từ năm 1959, khi Đoàn 559 được thành lập với nhiệm vụ mở tuyến chi viện chiến lược cho chiến trường miền Nam, quyết định mở rộng và sử dụng dải Tây Trường Sơn làm hành lang vận tải không chỉ thể hiện tầm nhìn quân sự thiên tài, mà còn là thử thách lớn nhất về sự tin cậy chính trị giữa hai Đảng, hai Nhà nước. Đảng, Nhà nước và nhân dân các dân tộc Lào đã tự nguyện nhường đất, dọn làng, biến một phần lãnh thổ của mình thành căn cứ địa cách mạng, thành tuyến đường huyết mạch phục vụ cho sự nghiệp giải phóng miền Nam Việt Nam, một sự hy sinh chủ quyền lãnh thổ tạm thời vì đại nghĩa chung mà hiếm quốc gia nào trên thế giới từng chấp nhận vì một dân tộc khác.

Trận tuyến Tây Trường Sơn dưới làn mưa bom bão đạn của đế quốc Mỹ đã trở thành “phòng thí nghiệm” khắc nghiệt nhất cho tình đoàn kết hai nước, nơi mọi cam kết chính trị được kiểm chứng bằng máu xương thực tế chứ không chỉ bằng văn kiện ngoại giao. Trên tuyến đường ấy, hai thực tiễn nổi bật đã trở thành minh chứng sống động nhất cho tinh thần liên minh chiến đấu:

Thứ nhất, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, bộ đội tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã sát cánh cùng Quân giải phóng nhân dân Lào, coi lãnh thổ Lào như quê hương thứ hai của mình, trực tiếp tham gia xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng và bảo vệ hành lang chiến lược trên đất bạn. Thứ hai, những chiến dịch lịch sử chung như Chiến dịch Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng và Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 đã giáng những đòn quyết định vào âm mưu cắt đứt tuyến chi viện chiến lược của kẻ thù, đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn Lam Sơn 719, qua đó tạo đà cho thắng lợi trọn vẹn của cách mạng hai nước vào năm 1975. Hai thực tiễn này không tách rời nhau: chính sự hiện diện và hy sinh của bộ đội Việt Nam trên đất Lào đã tạo tiền đề để những chiến dịch phối hợp quy mô lớn giành thắng lợi, và ngược lại, chính những thắng lợi ấy càng củng cố niềm tin chiến lược giữa hai bên, khiến liên minh chiến đấu ngày càng gắn bó chặt chẽ hơn qua từng năm tháng.

Cùng với các chiến dịch quân sự quy mô lớn, một mặt trận không kém phần quan trọng khác cũng được triển khai song song: công tác binh vận, dân vận và xây dựng cơ sở chính trị trong lòng dân các bộ tộc Lào dọc hai bên tuyến đường. Các đội công tác Việt Nam không chỉ làm nhiệm vụ quân sự, mà còn giúp dân bản khai hoang, chữa bệnh, dạy chữ, từ đó xây dựng nên một “thế trận lòng dân” vững chắc, nơi mỗi bản làng ven tuyến đường Trường Sơn đều trở thành một mắt xích trong hệ thống hậu cần, giao liên và cảnh giới của cả tuyến hành lang chiến lược. Chính sự gắn bó máu thịt ấy giữa quân đội và nhân dân, vượt ra ngoài phạm vi thuần túy quân sự, mới là yếu tố quyết định giúp tuyến chi viện chiến lược có thể đứng vững suốt 16 năm ròng dưới bom đạn ác liệt của không quân Mỹ.

Trong những năm tháng khói lửa ấy, hình ảnh “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” không còn là cách nói biểu trưng, mà là thực tế sinh động hằng ngày trên chiến trường. Bộ đội Việt Nam nhường phần lương thực ít ỏi cho em nhỏ người Lào; ngược lại, những bà mẹ Lào trong đó có Mẹ Suôn, Mẹ Bùa và biết bao người mẹ khác không được ghi danh đã giấu từng gùi khoai, gùi sắn trong rừng để nuôi cán bộ, chiến sĩ Việt Nam vượt qua những cơn đói rét tột cùng, thậm chí đánh đổi cả sự an nguy của bản thân và gia đình để che chở cho những người lính không cùng quốc tịch. Không ít trường hợp, khi biệt kích và thám báo địch lùng sục, chính những gia đình người Lào đã giấu thương binh Việt Nam ngay trong nhà mình, coi đó là lẽ tự nhiên chứ không phải một sự hy sinh cần được đền đáp.

Chính từ những hành động chân thành ấy, được lặp đi lặp lại suốt mười mấy năm ròng trên khắp tuyến lửa Trường Sơn, mà tinh thần liên minh chiến đấu đã không còn dừng lại ở cấp độ chính sách hay chỉ thị, mà thấm sâu vào đời sống tình cảm của mỗi người dân, mỗi người lính. Có thể nói, nếu tầm nhìn chiến lược của các lãnh tụ cách mạng là “cái đầu” định hướng cho liên minh Việt - Lào, thì chính hàng triệu hành động sẻ chia bình dị giữa những con người cụ thể trên tuyến lửa Trường Sơn mới là “trái tim” thổi hồn, biến một chủ trương chính trị thành một tình cảm sống động, bền chặt và đó chính là nền tảng để, ở một tầng bậc cao hơn, kết tinh thành một biểu tượng đạo đức mang tính độc nhất trong quan hệ giữa các dân tộc.

3. Biểu tượng độc tôn của sự hy sinh trong sáng, cao cả

Trên thế giới, không thiếu những liên minh quân sự được hình thành dựa trên sự tính toán lợi ích hay sức ép chính trị và phần lớn trong số đó tan rã ngay khi lợi ích chung không còn. Nhưng liên minh chiến đấu Việt - Lào lại mang một bản chất hoàn toàn khác biệt, được bồi đắp từ chính những thực tiễn hy sinh đã trình bày ở trên: sự hy sinh trong sáng và tinh thần quốc tế cao cả.

Nhiều thế hệ người mẹ Việt Nam đã tiễn những người con mười tám, đôi mươi sang đất Lào làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, với lời dặn dò giản dị mà sâu sắc: “Giúp bạn là tự giúp mình”. Hàng vạn người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã nằm lại trên mảnh đất Lào bao la. Máu của họ đã hòa vào lòng đất Mẹ Chăm-pa, dâng trọn tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của đất nước bạn, không đòi hỏi bất kỳ một sự đền đáp vật chất nào. Đáp lại thứ tình cảm thiêng liêng ấy, nhân dân các dân tộc Lào đã đón nhận bộ đội tình nguyện Việt Nam như chính ruột thịt của mình. Họ đã đùm bọc, chở che và khi chiến sĩ Việt Nam ngã xuống, chính bàn tay của nhân dân Lào đã vun đắp từng ngôi mộ, cẩn trọng lưu giữ từng kỷ vật để chờ ngày đưa các anh trở về với quê hương, một nghĩa cử mà đến tận hôm nay vẫn được tiếp nối qua công tác phối hợp tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh trên đất Lào.

“Trường Sơn giăng giăng mây trắng, nhưng không thể che mờ tầm nhìn chiến lược của hai dân tộc. Dòng Mê Công cuồn cuộn chảy, nhưng không thể cuốn trôi những nghĩa tình đã đi vào huyền thoại.”

Bên cạnh những nghĩa cử đời thường, sự hy sinh trong sáng của liên minh Việt - Lào còn được thể hiện ở một tầng bậc khác: sự tôn trọng tuyệt đối chủ quyền và quyền tự quyết dân tộc của nhau. Trong suốt quá trình phối hợp chiến đấu, Việt Nam luôn xác định rõ vai trò của mình là hỗ trợ, đồng hành, chứ không bao giờ áp đặt hay can thiệp vào công việc nội bộ của cách mạng Lào; mọi quyết sách quan trọng liên quan đến vận mệnh đất nước Lào đều do chính Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và nhân dân các bộ tộc Lào quyết định. Chính sự tôn trọng bình đẳng, không vụ lợi ấy, một nguyên tắc xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế đã khiến cho liên minh chiến đấu Việt - Lào tránh được vết xe đổ của không ít mối quan hệ từng tồn tại trong lịch sử quan hệ quốc tế, nơi sự hỗ trợ thường đi kèm với các điều kiện ràng buộc hoặc tham vọng chi phối.

Không chỉ dừng lại trong thời chiến, tinh thần hy sinh trong sáng ấy còn được tiếp nối bằng những việc làm cụ thể, bền bỉ suốt nhiều thập kỷ sau khi chiến tranh kết thúc. Công tác tìm kiếm, quy tập và hồi hương hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh trên đất Lào đã được hai Đảng, hai Nhà nước duy trì đều đặn qua nhiều mùa khô, với sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền và nhân dân địa phương Lào, những người trong suốt hàng chục năm vẫn âm thầm gìn giữ, chỉ dẫn vị trí phần mộ của những người lính đã ngã xuống trên quê hương mình. Đây là một minh chứng hiếm có cho thấy nghĩa tình Việt - Lào không phải là ký ức đã đóng băng trong quá khứ, mà là một dòng chảy đạo lý vẫn được thực hành sống động cho đến tận hôm nay.

Chính vì sự hy sinh ấy không xuất phát từ tính toán lợi ích, mà xuất phát từ tình cảm quốc tế vô sản trong sáng và ý thức về vận mệnh chung của hai dân tộc, nên nó mới có sức sống bền vững qua nhiều thế hệ, không bị bào mòn bởi thời gian hay biến động của cục diện thế giới. Đây chính là điểm khác biệt căn bản, lý giải vì sao quan hệ Việt - Lào có thể được ví như một “mối tình đặc biệt có một không hai” trong quan hệ quốc tế đương đại.

Kết luận: Di sản vô giá cho muôn đời sau

Tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc không chỉ dừng lại ở những chiến công quân sự hay những văn kiện hợp tác, mà đã hóa thân thành một phẩm chất văn hóa, một chuẩn mực đạo đức trong quan hệ quốc tế, điều mà không một hiệp ước hay thỏa thuận song phương nào có thể tạo ra nếu thiếu đi nền tảng lịch sử được tôi luyện bằng xương máu.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng nền tảng lịch sử được xây dựng bằng xương máu, bằng sự thấu hiểu và sẻ chia sâu sắc giữa hai dân tộc chính là cái gốc bền vững nhất, là mạch nguồn nuôi dưỡng mọi tầng nấc hợp tác sau này. Nhìn lại toàn bộ tiến trình có thể thấy rõ một mạch logic nhất quán: chính sự tương đồng về địa lý và hoàn cảnh lịch sử đã tạo ra động lực khách quan cho sự liên kết; chính tầm nhìn chiến lược của các lãnh tụ cách mạng đã chuyển hóa động lực khách quan ấy thành chủ trương hợp tác có tổ chức; và chính thực tiễn hy sinh, sẻ chia của hàng vạn con người bình dị trên tuyến lửa Trường Sơn đã biến chủ trương ấy thành một tình cảm bền chặt, ăn sâu vào tâm thức hai dân tộc, vượt lên trên mọi tính toán lợi ích nhất thời.

Chính từ cái gốc ấy, từ định mệnh địa lý - lịch sử giao thoa, từ thử thách khắc nghiệt trên tuyến lửa Tây Trường Sơn, đến sự kết tinh thành biểu tượng đạo đức trong sáng còn được tiếp nối đến tận hôm nay mà quan hệ Việt - Lào có đủ sức nặng lịch sử để bước vào giai đoạn cách mạng mới: giai đoạn củng cố hòa bình, tin cậy chính trị và cùng nhau phát triển phồn vinh. Câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để nguồn vốn lịch sử vô giá ấy được chuyển hóa thành sự tin cậy chiến lược ở cấp độ cao nhất giữa hai Đảng, hai Nhà nước trong giai đoạn hòa bình, hội nhập? Đó chính là nội dung sẽ được làm rõ trong kỳ tiếp theo của loạt bài này.

Nguyễn Đình Thiện

Nguyễn Thị Hoài Thu

KỲ 2: TÍN NHIỆM CHÍNH TRỊ CAO ĐỘ – TRỤ CỘT CHO SỰ ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN

 

 

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất