Nghiên cứu Quốc tế
Thứ Năm, 3/9/2026 8:34'(GMT+7)

40 NĂM ĐỔI MỚI (1986 - 2026): TỪ BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ ĐẾN KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Nhìn lại chiều dài lịch sử dân tộc, chặng đường 40 năm Đổi mới (1986 - 2026) không đơn thuần là một thời kỳ phát triển kinh tế, mà là một cuộc trường chinh tự đổi mới, tự bứt phá mang tính sinh tồn và kiến tạo vĩ đại. Từ một quốc gia kiệt quệ sau chiến tranh, bị bao vây cấm vận, lạm phát phi mã lên tới 774,7% và hơn 70% dân số sống dưới chuẩn nghèo, Việt Nam đã vươn mình trở thành một trong những điểm sáng toàn cầu về tăng trưởng, giảm nghèo và hội nhập quốc tế.

Pháo hoa trên bầu trời Hà Nội

Lấy thực tiễn làm thước đo, lấy dân làm gốc và lấy sự thịnh vượng của dân tộc làm mục tiêu tối thượng, loạt bài chính luận 5 kỳ “40 năm Đổi mới (1986-2026): Từ bước ngoặt lịch sử đến khát vọng hùng cường của dân tộc Việt Nam” sẽ phác họa bức tranh toàn cảnh, sống động về hành trình diệu kỳ đó qua từng nấc thang chiến lược:

Kỳ 1: Bước “xé rào” lịch sử và bài học “lấy dân làm gốc” - Tái hiện “màn đêm trước Đổi mới” đầy bế tắc, những ngọn lửa “xé rào” dũng cảm từ cơ sở và quyết sách lịch sử tại Đại hội VI (12/1986) khi Đảng dám “nhìn thẳng vào sự thật” để giải phóng sức sản xuất.

Kỳ 2: Từ bị bao vây, cấm vận đến tâm điểm hội nhập toàn cầu - Khắc họa bản lĩnh ngoại giao “Cây tre Việt Nam”, quá trình phá vỡ thế cô lập, bình thường hóa quan hệ với các cường quốc, gia nhập WTO và chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Kỳ 3: “Kỳ tích” giảm nghèo và sự lớn mạnh của hạ tầng đất nước - Minh chứng cho mô hình phát triển lấy con người làm trung tâm, từ hành trình đưa hơn 58% hộ nghèo xuống dưới 2%, đến cuộc bứt phá ngoạn mục về hạ tầng cao tốc, điện lưới và viễn thông.

Kỳ 4: Hoàn thiện thể chế và “lò nóng” chỉnh đốn Đảng - Phân tích công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần “không có vùng cấm”, gắn liền với việc xây dựng “chiếc lồng thể chế” và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo.

Kỳ 5: Khơi thông nguồn lực, kiến tạo tầm nhìn và hành động cho kỷ nguyên vươn mình - Định vị mục tiêu chiến lược hướng tới các mốc lịch sử 2030 và 2045, chuyển hóa thể chế và nguồn lực thành động lực đưa Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển hùng cường.

Xâu chuỗi quá khứ, hiện tại và tương lai, loạt bài viết không chỉ là sự ghi nhận những thành tựu có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm Đổi mới, mà còn là lời khẳng định về bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng cháy bỏng của toàn dân tộc trên con đường đi tới tương lai.

Trang thông tin điện tử Học viện Chính trị Công an nhân dân trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!


 

KỲ 1: BƯỚC “XÉ RÀO” LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC “LẤY DÂN LÀM GỐC”

Giữa thập niên 1980, đất nước rơi vào cơn bão lớn nhất trong lịch sử kinh tế thời bình: lạm phát leo thang tới 774,7% - một con số chưa từng có tiền lệ, cuốn đi từng đồng lương, từng bát cơm của hàng triệu gia đình. Đó là “đêm trước Đổi mới”, đêm dài của tem phiếu, của những hàng người xếp dài trước cửa hàng mậu dịch, của nỗi lo cơm áo đè nặng lên từng mái nhà. Nhưng cũng chính trong đêm tối bế tắc ấy, những đốm lửa “xé rào” âm thầm nhen lên từ thực tiễn sản xuất đã trở thành ngọn đuốc soi đường để Đảng “nhìn thẳng vào sự thật” tại Đại hội VI (12/1986) - mở ra bước ngoặt sinh tồn cho cả dân tộc.

1. Bóng đêm bao cấp và cơn bão lạm phát 774,7%

Gánh nặng chồng chất sau chiến tranh

Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, Việt Nam bước ra khỏi cuộc chiến tranh kéo dài với một thực tế kiệt quệ: hạ tầng giao thông, thủy lợi, nhà máy bị tàn phá nặng nề; hàng triệu héc-ta ruộng đồng còn ngổn ngang bom mìn; hàng triệu người phải tái định cư, ổn định lại cuộc sống từ con số 0. Ngay khi vết thương chiến tranh chưa kịp lành, dân tộc lại phải gồng mình gánh thêm hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc: ở biên giới Tây Nam chống chế độ diệt chủng Pol Pot (1978 - 1979) và biên giới phía Bắc (1979) tiêu tốn nguồn lực quốc gia vào đúng thời điểm đất nước cần tập trung toàn lực cho tái thiết, phát triển kinh tế.

 

Người dân xếp hàng mua chất đốt thời bao cấp

Ở trong nước, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp vốn từng phát huy tác dụng nhất định trong thời chiến để tập trung sức người, sức của cho tiền tuyến, khi áp dụng trên phạm vi cả nước trong thời bình đã bộc lộ những hẫng hụt nghiêm trọng. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính, không thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường; xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã nông nghiệp sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh, lãi thì Nhà nước thu, lỗ thì Nhà nước bù, khiến động lực lao động, sáng tạo bị triệt tiêu. Tâm lý “cha chung không ai khóc”, “làm nhiều cũng như làm ít” lan rộng trong các hợp tác xã, nông trường, xí nghiệp quốc doanh, kéo năng suất lao động toàn xã hội xuống mức thấp.

Bối cảnh quốc tế những năm 1980 cũng không hề thuận lợi. Trật tự thế giới hai cực trong Chiến tranh Lạnh khiến không gian sinh tồn của một nền kinh tế nhỏ, vừa ra khỏi chiến tranh như Việt Nam trở nên chật hẹp; các định chế tài chính - thương mại toàn cầu khi đó gần như đóng kín cửa với Việt Nam. Hoa Kỳ và các nước phương Tây duy trì chính sách cấm vận toàn diện đối với Việt Nam ngay sau năm 1975, cắt đứt hoàn toàn các nguồn vốn vay, viện trợ và thị trường từ khối kinh tế phương Tây. Nguồn viện trợ, hợp tác truyền thống từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em tuy vẫn được duy trì nhưng ngày càng eo hẹp trước những khó khăn nội tại của chính các nước bạn. Bị bủa vây tứ phía, nền kinh tế Việt Nam gần như bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

Đặc biệt, trong nội bộ đất nước, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng khó khăn kinh tế để xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, kích động tâm lý hoài nghi trong một bộ phận nhân dân. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh ấy là nhiệm vụ đặc biệt nặng nề, đòi hỏi sự hy sinh thầm lặng của biết bao cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, trong đó có lực lượng Công an nhân dân, để bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng.

Cải cách Giá - Lương - Tiền và cơn địa chấn tài chính 1985

Chỉ số kinh tế

Giai đoạn 1981 - 1985

Đỉnh điểm năm 1986

Tỷ lệ lạm phát

Duy trì mức 3 chữ số (25% - 95%)

774,7%

Lương thực nhập khẩu

1 - 1,5 triệu tấn/năm

Thiếu hụt nghiêm trọng trên toàn quốc

Tỷ lệ hộ thiếu ăn, nghèo đói

Trên 70%

Mức sống sụt giảm thảm hại

Dự trữ ngoại tệ, vàng

Cạn kiệt dần

Gần như trống rỗng

Trước áp lực mất cân đối cung - cầu ngày càng lớn, mùa thu năm 1985, Nhà nước tiến hành cuộc tổng điều chỉnh “Giá - Lương - Tiền” với mục tiêu tháo gỡ khó khăn, xóa bỏ chế độ bao cấp qua giá và tem phiếu. Tuy nhiên, do thiếu chuẩn xác về thời điểm, bước đi và phương pháp triển khai trong bối cảnh sản xuất chưa được cải thiện tương xứng, cuộc cải cách đã bùng phát thành một cơn đại địa chấn tài chính - tiền tệ. Đồng tiền mất giá theo từng giờ; tiền in ra không kịp tốc độ leo thang của giá cả; đời sống của người ăn lương Nhà nước, lực lượng vũ trang và đông đảo nhân dân lao động rơi vào cảnh kiệt quệ chưa từng có.

 

Biểu đồ: Lạm phát Việt Nam leo thang, đạt đỉnh 774,7% vào năm 1986

Đến cuối năm 1986, đời sống nhân dân cạn kiệt tới mức vận mệnh của cả nền kinh tế và cùng với đó là sự tồn vong của thành quả cách mạng bị đặt trước phép thử nghiệt ngã nhất kể từ ngày đất nước thống nhất. Đổi mới, khi ấy, không còn là một lựa chọn mang tính lý luận, mà đã trở thành một đòi hỏi sống còn.

2. Tiếng nói từ thực tiễn: Những mũi thuyền “xé rào”

Khi các quy định hành chính vô tình trói buộc sức sản xuất, chính người dân và những cán bộ lãnh đạo dám nghĩ, dám làm ở cơ sở đã chủ động tìm lối thoát. Những cuộc “xé rào” từ nông thôn tới đô thị, đã trở thành phòng thí nghiệm thực tiễn quý giá cho tư duy đổi mới.

Tại nông thôn - Từ “khoán chui” đến Chỉ thị 100

Ngay từ giữa thập niên 1960, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc - Kim Ngọc đã khởi xướng chủ trương “khoán hộ”, giao ruộng đất, phương tiện sản xuất về cho từng hộ nông dân tự canh tác, tự chịu trách nhiệm về sản phẩm làm ra. Chủ trương táo bạo và đi trước thời đại này khi đó bị coi là đi chệch hướng, phải đình chỉ thực hiện, nhưng tinh thần đề cao lợi ích của người lao động vẫn ngầm chảy trong đời sống nông thôn suốt nhiều năm sau đó.

Bước sang đầu thập niên 1980, khi mô hình hợp tác xã tập trung ngày càng trì trệ, ruộng đất bị bỏ hoang, năng suất lao động sa sút nghiêm trọng, nông dân ở nhiều địa phương đã tự phát quay lại cách làm của “khoán chui”: âm thầm chia lại ruộng đất tập thể để tự làm, tự chịu trách nhiệm, bất chấp quy định chính thức chưa cho phép. Sức ép lan tỏa từ thực tiễn đã buộc Trung ương phải nhìn nhận lại, dẫn tới việc ban hành Chỉ thị 100-CT/TW (tháng 1/1981) của Ban Bí thư, chính thức thừa nhận cơ chế khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp. Đây là bước đệm quan trọng để sau này, Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (tháng 4/1988, thường gọi là “Khoán 10”) hoàn thiện triệt để cơ chế khoán hộ, giải phóng hoàn toàn sức sản xuất nông nghiệp.

Tại đô thị - Cuộc “vượt rào” cứu đói tại TP. Hồ Chí Minh

Đầu thập niên 1980, TP. Hồ Chí Minh đối mặt với nguy cơ thiếu hụt lương thực trầm trọng cho hàng triệu công nhân, trong khi cơ chế “ngăn sông cấm chợ” ngăn cản việc lưu thông hàng hóa giữa các địa phương. Trước tình thế cấp bách, đồng chí Võ Văn Kiệt, khi đó là Bí thư Thành ủy, đã quyết định chỉ đạo các công ty lương thực thành phố dùng ngân sách bảo lãnh, chủ động tổ chức thu mua lúa gạo ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ theo giá thị trường, vượt ra ngoài khuôn khổ giá thu mua theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thời kỳ làm Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh chỉ đạo: “Nếu phải đi tù vì mua gạo giá thị trường cứu dân, tôi xin đi tù thay các đồng chí.”  

Hàng loạt xí nghiệp quốc doanh trên địa bàn thành phố như Dệt Thành Công, Bột giặt Miền Nam, Xí nghiệp Liên hiệp thuốc lá, Cholimex... cũng chủ động xây dựng mô hình “kế hoạch C”: bên cạnh chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước, doanh nghiệp tự tìm nguồn nguyên liệu, tự tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo cơ chế thị trường để duy trì hoạt động, trả lương và giữ chân người lao động.

Long An - “bù giá vào lương”

Song song với những cuộc “xé rào” ở TP. Hồ Chí Minh, tỉnh Long An, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Văn Chính đã mạnh dạn thí điểm cơ chế “bù giá vào lương” từ năm 1980, xóa bỏ chế độ tem phiếu, chuyển sang thực hiện việc mua bán theo giá kinh doanh thương nghiệp, đồng thời trả lương cho cán bộ, công nhân viên tương ứng với mức giá đó. Từ một cuộc thử nghiệm cục bộ ở cấp tỉnh, mô hình Long An trở thành một trong những căn cứ thực tiễn quan trọng, góp phần củng cố quyết tâm của Trung ương trong việc tiến hành cuộc tổng điều chỉnh Giá - Lương - Tiền trên phạm vi cả nước vào năm 1985.

 

 

 Các mốc “xé rào” quan trọng từ thực tiễn cơ sở, tạo tiền đề cho Đại hội VI

Từ những mô hình xé rào ở cả nông thôn và đô thị, một thực tế đã hiện rõ: nơi nào mạnh dạn tháo gỡ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho người lao động và cơ sở sản xuất, nơi đó sức sản xuất được bung ra, đời sống người dân lập tức được cải thiện. Đây chính là những viên gạch thực tiễn đầu tiên, đặt nền móng cho quá trình đổi mới tư duy ở tầm quốc gia.

3. Đại hội VI (12/1986): Nhìn thẳng vào sự thật

Những đốm lửa “xé rào” từ lòng dân và thực tiễn địa phương đã tạo nên sức ép lan truyền mạnh mẽ lên thượng tầng kiến trúc. Cố Tổng Bí thư Trường Chinh, người được giao trọng trách trực tiếp chỉ đạo chuẩn bị Báo cáo Chính trị trình Đại hội VI, đã cùng nhiều đồng chí lãnh đạo Trung ương trực tiếp đi khảo sát thực địa tại các địa phương, lắng nghe ý kiến của giới nghiên cứu kinh tế, cán bộ cơ sở và cả những người nông dân, công nhân. Quá trình soạn thảo văn kiện Đại hội VI diễn ra trong một cuộc đấu tranh tư tưởng nội bộ hết sức quyết liệt giữa quan điểm bảo thủ, giáo điều, ngại thay đổi với tư duy đổi mới, dám nhìn thẳng vào những khuyết điểm, sai lầm trong quản lý kinh tế nhiều năm trước đó. Bản dự thảo Báo cáo Chính trị đã phải qua nhiều lần chỉnh sửa để có thể phản ánh đúng, trúng yêu cầu bức thiết mà thực tiễn cuộc sống đang đặt ra.

Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã đưa ra một tuyên ngôn có ý nghĩa lịch sử, trở thành kim chỉ nam xuyên suốt cho công cuộc đổi mới sau này: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Trên tinh thần đó, Đại hội VI đã chính thức quyết định những chủ trương mang tính đột phá, làm thay đổi căn bản tư duy phát triển đất nước:

(1) Từ bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp - vốn đã kìm hãm sức sản xuất trong suốt hơn một thập kỷ;

(2) Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại bình đẳng, lâu dài của kinh tế tư nhân, kinh tế gia đình bên cạnh kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể;

(3) Vận hành nền kinh tế theo quy luật thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa;

(4) Tập trung mọi nguồn lực thực hiện Ba chương trình kinh tế lớn: Lương thực - thực phẩm, Hàng tiêu dùng và Hàng xuất khẩu, coi đây là ba mũi đột phá để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.

 

Ba chương trình kinh tế lớn được Đại hội VI xác định là mũi đột phá chiến lược

Đại hội VI được ghi nhận trong lịch sử Đảng là “Đại hội của đổi mới tư duy”, trước hết và trực tiếp nhất là đổi mới tư duy kinh tế. Đây là mốc khởi đầu của công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước, đặt nền móng cả về lý luận lẫn thực tiễn cho toàn bộ tiến trình phát triển của Việt Nam trong bốn thập kỷ tiếp theo. Từ một quyết sách sinh tồn trước áp lực khủng hoảng, Đại hội VI đã mở ra một con đường phát triển hoàn toàn mới, đưa đất nước từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề để tự tin bước ra hội nhập với thế giới.

4. Bài học “Lấy dân làm gốc”

Nhìn lại toàn bộ hành trình dẫn tới quyết sách lịch sử năm 1986, có thể khẳng định: Đổi mới không phải là một mô hình lý thuyết được vạch sẵn trong phòng máy lạnh, mà là sự đúc kết từ chính tri thức, mồ hôi và cả những rủi ro mà nhân dân đã âm thầm gánh chịu trong hành trình “xé rào” tìm lối thoát cho chính mình. Bài học quan trọng nhất, xuyên suốt và có giá trị bền vững nhất của công cuộc Đổi mới năm 1986 chính là sự trở lại với tư tưởng “lấy dân làm gốc” - một tư tưởng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định từ rất sớm: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”.

Khi đường lối của Đảng gặp đúng nguyện vọng chính đáng của nhân dân, sức mạnh dân tộc được nhân lên gấp bội. Chính những cuộc “xé rào” dũng cảm từ cơ sở đã cởi trói cho sức sản xuất, tạo tiền đề vững chắc để Việt Nam không chỉ thoát khỏi khủng hoảng mà còn tự tin bước ra thế giới trong các thập kỷ tiếp theo.

Bốn mươi năm sau Đại hội VI, bài học “lấy dân làm gốc” không những không phai nhạt mà còn tiếp tục được kế thừa, bổ sung và phát triển trong đường lối của Đảng, kết tinh thành phương châm hành động “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” được khẳng định tại các kỳ Đại hội gần đây. Đây chính là sự tiếp nối nhất quán của tư duy coi nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là chủ thể của mọi chủ trương, chính sách phát triển đất nước.

Lời kết Kỳ 1

Bước “xé rào” lịch sử năm 1986 đã cởi trói cho sức sản xuất bị kìm hãm suốt nhiều năm, đưa đất nước thoát khỏi bờ vực khủng hoảng và mở ra một chương phát triển hoàn toàn mới. Nhưng phá thế bao cấp trong nước mới chỉ là bước đi đầu tiên. Ngay sau Đại hội VI, Việt Nam còn phải đối mặt với một cuộc chiến sinh tồn khác không kém phần cam go trên mặt trận đối ngoại: phá vỡ thế bị bao vây, cấm vận để vươn ra hội nhập với thế giới. Hành trình bản lĩnh ấy, từ một quốc gia bị cô lập đến vị thế tâm điểm của các mạng lưới liên kết kinh tế toàn cầu sẽ được khắc họa trong

Nguyễn Đình Thiện

Nguyễn Thị Hoài Thu

Kỳ 2.

KỲ 2: TỪ BỊ BAO VÂY, CẤM VẬN ĐẾN TÂM ĐIỂM HỘI NHẬP TOÀN CẦU

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất